Quy chế văn thư lưu trữ

 

Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả

 

- Căn cứ Quyết định số 521/TC-QĐ ngày 06 tháng 03 năm 1997 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Cục Bản quyền tác giả;

- Căn cứ Quy chế về công tác văn thư và lưu trữ của Bộ Văn hoá - Thông tin ban hành kèm theo Quyết định số 36/2001/QĐ-BVHTT ngày 25/6/2001;

- Xét đề nghị của Trưởng phòng Hành chính tổng hợp Cục Bản quyền tác giả,

Quyết định

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này "Quy chế công tác văn thư, lưu trữ của Cục Bản quyền tác giả".

Điều 2. Quy chế này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký. Những quy định trước đây trái với những quy định tại Quy chế này đều bãi bỏ.

Điều 3. Trưởng phòng Hành chính tổng hợp, Trưởng phòng Quản lý bản quyền, Trưởng phòng Quản lý hiệp hội - thông tin, Trưởng Đại diện Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Hồ Chí Minh và cán bộ, công chức thuộc Cục Bản quyền tác giả chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.


Quy chế công tác văn thư, lưu trữ của Cục Bản quyền tác giả

(Ban hành kèm theo Quyết định số 03/QĐ-CBQTG
ngày 28 tháng 11 năm 2001 của Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả) 

 

Chương I

Quy định chung

Điều 1. Đối tượng và phạm vi áp dụng

Công tác văn thư, lưu trữ ở Cục Bản quyền tác giả là những hoạt động nghiệp vụ bao gồm công việc xây dựng và ban hành văn bản, tổ chức quản lý và giải quyết văn bản, quản lý con dấu, lập hồ sơ công việc, thu thập, bổ sung, bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ nhằm phục vụ nhanh, chính xác cho công tác quản lý Nhà nước và các hoạt động của Cục Bản quyền tác giả.

Mọi hoạt động nghiệp vụ công tác văn thư và lưu trữ của Cục Bản quyền tác giả chịu sự điều chỉnh của Quy chế này và các quy định tại "Quy chế công tác văn thư và lưu trữ của Bộ Văn hoá - Thông tin" ban hành kèm theo Quyết định số 36/2001/QĐ-BVHTT ngày 25/6/2001, Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước, các văn bản hiện hành của Nhà nước về văn thư, lưu trữ.

Quy chế này được áp dụng thống nhất trong các Phòng, Đại diện Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Hồ Chí Minh (Đại diện).

Điều 2. Trách nhiệm thực hiện

Trưởng phòng Hành chính tổng hợp của Cục Bản quyền tác giả chịu trách nhiệm trước Cục trưởng về công tác văn thư, lưu trữ của Cục Bản quyền tác giả và có trách nhiệm tổ chức, quản lý công tác văn thư, lưu trữ của Cục Bản quyền tác giả theo qui định hiện hành của Nhà nước, Quy chế Văn thư, lưu trữ của Bộ Văn hoá - Thông tin và Quy chế này.

Trưởng các Phòng, Đại diện thuộc Cục Bản quyền tác giả có trách nhiệm tổ chức, quản lý công tác văn thư, lưu trữ của Phòng, Đại diện mình phụ trách theo đúng Quy chế này và Quy chế công tác văn thư lưu trữ của Bộ Văn hoá - Thông tin, các văn bản hiện hành của Nhà nước về công tác văn thư, lưu trữ.

Mọi cán bộ, công chức thuộc Cục Bản quyền tác giả có liên quan đến công tác văn thư, lưu trữ có trách nhiệm thực hiện những quy định tại Quy chế này.

Điều 3. Kinh phí hoạt động văn thư, lưu trữ

Kinh phí phục vụ công tác văn thư, lưu trữ được dự trù và chi tiêu theo kế hoạch ngân sách do Bộ Văn hoá - Thông tin duyệt. Việc sử dụng và quản lý kinh phí thực hiện theo chế độ hiện hành.

Chương 2

Công tác văn thư

Mục 1: Nội dung, tổ chức và nhiệm vụ công tác văn thư

Điều 4. Nội dung công tác văn thư

1- Về xây dựng và ban hành văn bản:

- Dự thảo văn bản;

- Duyệt bản thảo văn bản;

- Đánh máy, nhân bản văn bản đã được duyệt;

- Ký văn bản;

- Phát hành văn bản.

2- Về quản lý và giải quyết văn bản:

- Quản lý và giải quyết văn bản đến;

- Quản lý văn bản đi;

- Lập hồ sơ và giao nộp hồ sơ tài liệu vào lưu trữ cơ quan.

3- Về quản lý và sử dụng con dấu.

Điều 5. Bộ phận văn thư và nhiệm vụ chủ yếu của văn thư

Phòng Hành chính tổng hợp cử nhân sự làm công tác văn thư phù hợp.

Nhiệm vụ chính của công chức văn thư:

- Thực hiện qui trình văn bản đi;

- Thực hiện qui trình văn bản đến;

- Phối hợp với công chức phụ trách tổng hợp của phòng giúp thủ trưởng theo dõi tiến độ giải quyết văn  bản đến;

- Sắp xếp, bảo quản bản lưu và phục vụ tra cứu, sử dụng theo yêu cầu công tác của cơ quan;

- Chuẩn bị giấy giới thiệu, giấy đi đường cho cán bộ, công chức;

- Bảo quản và sử dụng con dấu.

Mục 2:  Xây dựng văn bản

Điều 6. Thể loại và thể thức văn bản

1- Văn bản của Cục Bản quyền tác giả bao gồm toàn bộ những văn bản được hình thành trong quá trình quản lý, chỉ đạo điều hành và giải quyết công việc nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cục Bản quyền tác giả.

Văn bản của Cục Bản quyền tác giả gồm: Quyết định, Quy chế, Công văn hành chính, Thông báo, Báo cáo, Tờ trình, Đề án, Phương án, Chương trình, Kế hoạch, Biên bản, Hợp đồng, Giấy chứng nhận, Giấy mời, Giấy phép, Giấy giới thiệu, Giấy đi đường, Giấy uỷ quyền, Giấy uỷ nhiệm, Giấy nghỉ phép.

2- Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật tuân theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 23/11/1996.

3- Các văn bản khi ban hành phải được thực hiện theo thể thức quy định, gồm: Quốc hiệu, tên cơ quan, số và ký hiệu, địa danh và ngày, tháng, năm, tên loại và trích yếu, nội dung văn bản, chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền, dấu cơ quan, nơi nhận, dấu mức độ khẩn, mật (đối với văn bản khẩn, mật) (02 phụ lục kèm theo).

Điều 7. Soạn thảo văn bản

1- Các Phòng, Đại diện được giao soạn thảo văn bản phải chịu trách nhiệm về nội dung, thể thức và tính chất hợp pháp của văn bản. Tuỳ theo từng văn bản cụ thể, Cục trưởng có thể lấy yêu cầu góp ý, bổ sung của các đơn vị, cá nhân liên quan để hoàn chỉnh văn bản trước khi ký ban  hành. Tất cả các bản thảo văn bản đều phải do người ký hoặc người được uỷ quyền duyệt trước khi đánh máy để ký ban hành. Khi trình duyệt bản thảo phải đính kèm các văn bản, tài liệu có liên quan. Khi trình ký văn bản chính thức phải kèm theo bản thảo đã được duyệt. Không được tự ý sửa chữa, bổ sung vào bản thảo đã được duyệt. Nếu cần sửa chữa, bổ sung phải trình người ký quyết định. Văn bản trình lãnh đạo Bộ Văn hoá - Thông tin ký theo thẩm quyền phải có chữ ký tắt của Cục trưởng Bản quyền tác giả.

Các Trưởng phòng, Trưởng đại diện phải ký tắt trước khi trình Cục trưởng ký.

2- Phòng Hành chính tổng hợp có trách nhiệm kiểm tra lần cuối thể thức văn bản trước khi đóng dấu. Khi phát hiện văn bản sai về thể thức hoặc nội dung thì báo cáo người ký ban hành để yêu cầu các Trưởng phòng, Trưởng đại diện được giao nhiệm vụ soạn thảo sửa chữa, hoàn chỉnh.

3- Chức vụ, họ và tên người ký văn bản phải được ghi chính xác, rõ ràng, đúng quy định.

Điều 8. Đánh máy, nhân bản văn bản

1- Kỹ thuật trình bày, thể thức, ký hiệu, kiểu chữ, cỡ chữ trong văn bản được thực hiện thống nhất theo quy định của Chính phủ, của Bộ Văn hoá Thông tin (02 phụ lục kèm theo).

Bản thảo phải được đánh máy chính xác, đúng nguyên văn, đúng số lượng và thời gian quy định. Trưởng phòng, Trưởng đại diện được giao soạn thảo văn bản có trách nhiệm soát lại bản đánh máy trước khi trình Cục trưởng ký.

2- Văn bản gửi các tổ chức và cá nhân nước ngoài, báo cáo tại các hội nghị, hội thảo quốc tế phải viết bằng tiếng Việt để duyệt. Khi gửi văn bản đi cần kèm theo bản dịch không chính thức bằng tiếng nước ngoài tương ứng.

Mục 3: Ban hành văn bản

Điều 9. Ký văn bản

1- Cục trưởng ký tất cả các văn bản của đơn vị. Cục trưởng có thể giao cho Phó Cục trưởng ký thay (KT) những văn bản theo sự uỷ nhiệm của Cục trưởng và những văn bản thuộc các lĩnh vực được phân công.

Trường hợp Cục trưởng và các Phó Cục trưởng đều đi vắng, Cục trưởng có thể giao cho một cán bộ phụ trách dưới mình một cấp ký thừa uỷ quyền (TUQ) một số văn bản và phải có văn bản giao ký thừa uỷ quyền trong thời gian nhất định:

- Ký giấy giới thiệu, giấy đi đường, giấy nghỉ phép (theo duyệt của Cục trưởng).

- Ký các văn bản khác nếu được Cục trưởng uỷ quyền.

Trưởng phòng, Trưởng đại diện ký thừa lệnh các văn bản nếu được Cục trưởng uỷ quyền.

2-  Không được dùng bút chì, bút mực đỏ và các thứ mực dễ phai để ký văn bản.

3- Số lượng bản chính cần ban hành và thời gian ban hành do người ký văn bản quyết định. Không được nhân bản thêm và giữ lại văn bản có chữ ký chưa đóng dấu sau khi văn bản đã ban hành.

4- Văn bản đã ký, đóng dấu và được phép ban hành, phải được ban hành đúng thời gian theo yêu cầu của văn bản.

Điều 10. Sao văn bản

1- Việc sao lại các văn bản của Cục Bản quyền tác giả, của Bộ Văn hoá - Thông tin và văn bản của cấp trên để gửi cho các đơn vị khác thực hiện do Cục trưởng quyết định.

2- Việc sao văn bản được thực hiện thống nhất theo hai loại gồm: "Sao nguyên văn bản chính" và "Trích sao". Thể thức văn bản sao gồm: dòng chữ "Sao nguyên văn bản chính" hoặc "Trích sao", tên cơ quan sao văn bản, số, ký hiệu bản sao, địa danh, ngày, tháng, năm, chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền, dấu cơ quan.

3- Không được sao chụp, chuyển phát ra ngoài cơ quan những ý kiến ghi bên lề văn bản. Trường hợp những ý kiến của Cục trưởng ghi bên lề văn bản cần thiết cho việc giao dịch, trao đổi công tác phải được thể chế hoá bằng văn bản hành chính.

4- Văn bản sao nguyên văn hoặc trích sao đúng thể thức có giá trị pháp lý như bản chính. Văn bản dùng để sao phải là bản chính hoặc bản sao có giá trị pháp lý như bản chính.

Mục 4: Tiếp nhận và xử lý văn bản

Điều 11. Tiếp nhận văn bản

"Văn bản đi" là văn bản do Cục Bản quyền tác giả gửi đi các địa chỉ được xác định.

"Văn bản đến" là văn bản của các tổ chức, cá nhân khác gửi đến Cục Bản quyền tác giả.

"Văn bản đi" và "Văn bản đến" phải được đăng ký thống nhất ở văn thư Cục Bản quyền tác giả. Phòng Hành chính tổng hợp chỉ trình Cục trưởng những văn bản đã đăng ký.

"Văn bản đi" và "Văn bản đến" được ghi số theo thứ tự từ số 01 cho văn bản đầu tiên của ngày làm việc đầu năm và kết thúc bằng số của văn bản cuối cùng của ngày làm việc cuối năm. Sổ ghi đăng ký "Văn bản đi" và "Văn bản đến" được dùng thống nhất theo mẫu của Cục Lưu trữ Nhà nước đã ban hành.

Điều 12. Xử lý văn bản đi

1- Văn thư có nhiệm vụ rà soát thể thức văn bản đi, ghi số, ghi ngày, tháng, năm, đăng ký vào sổ, đóng dấu (kể cả dấu độ mật, khẩn nếu có) và gửi văn bản đi. Văn bản có đóng dấu "Khẩn", "Thượng khẩn", "Hoả tốc" phải được gửi ngay sau khi đăng ký và phải bảo đảm thời hạn đến nơi nhận ghi trên phong bì.

2- Mỗi văn bản đi phải lưu ít nhất 02 bản chính và các phụ lục kèm theo (nếu có), 01 bản lưu ở văn thư, 01 bản lưu trong hồ sơ công việc ở nơi soạn thảo văn bản.

3- Người ký văn bản căn cứ yêu cầu giải quyết công việc quyết định gửi văn bản đến những nơi có thẩm quyền giám sát, giải quyết, có trách nhiệm thi hành hoặc để biết.

4- Việc gửi văn bản từ cấp trên xuống cấp dưới và ngược lại phải theo nguyên tắc gửi trực tiếp, không gửi vượt cấp. Trường hợp đặc biệt cần gửi vượt cấp thì phải gửi một bản cho cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp biết.

Điều 13. Xử lý văn bản đến

1- Văn thư có nhiệm vụ bóc bì văn bản đến, phân loại, đóng dấu đến, vào sổ theo dõi, chuyển cho Cục trưởng cho ý kiến, sau đó chuyển đến địa chỉ theo sự chỉ đạo của Cục trưởng ngay trong ngày nhận được văn bản. Trường hợp bì có dấu mật (A), tối mật (B), tuyệt mật (C), sau khi vào sổ theo dõi riêng số ghi trên bì thư, văn thư chuyển trực tiếp bì thư cho cá nhân, tổ chức được ghi tên trên bì.

2- Khi phát hiện "Văn bản đến" sai thể thức (không số, không thời gian ban hành, không dấu hoặc có dấu nhưng không có chữ ký, hoặc người ký vượt thẩm quyền v.v...) thì báo cáo Cục trưởng và làm thủ tục gửi trả lại nơi gửi.

3- Văn bản có dấu "Công văn đến" đã được Cục trưởng cho ý kiến chuyển tiếp thì chuyên viên tổng hợp giúp việc Cục trưởng chuyển nơi nhận để xử lý và theo dõi thực hiện.

4- Những văn bản đến thuộc loại mật, tối mật, tuyệt mật và những văn bản gửi các tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên không thuộc trách nhiệm văn thư bóc bì, trước khi chuyển đến nơi nhận phải vào sổ, người nhận phải ký nhận vào sổ theo dõi.

Văn bản gửi các nước, các tổ chức quốc tế hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài (kể cả tài liệu fax) phải được sự đồng ý của Cục trưởng. Tất cả các bản fax phải lưu bản gốc ngay sau khi fax và vào sổ theo dõi fax đi. Trường hợp gửi bằng thư điện tử thì phải in ra để Cục trưởng duyệt trước khi gửi đi. Phòng Hành chính tổng hợp lập sổ theo dõi fax đi và fax đến. Người fax đi phải ghi các thông tin và lưu bản fax tại sổ fax đi. Các văn bản fax đến được lưu tại sổ fax đến. Hết năm công tác, cán bộ lưu trữ có trách nhiệm thu hồi sổ fax đi, fax đến vào kho lưu trữ.

Mục 5: Quản lý văn bản, quản lý và sử dụng con dấu, lập hồ sơ công việc

Điều 14. Quản lý văn bản

1- Trưởng phòng Hành chính tổng hợp có trách nhiệm tổ chức quản lý văn bản đi, đến theo quy trình nghiệp vụ, theo dõi quá trình xử lý văn bản đi, đến nhằm quản lý tốt công tác văn thư, lưu trữ.

2- Chuyên viên phụ trách văn thư trực tiếp thực hiện các công việc thuộc nhiệm vụ của văn thư.

Điều 15. Quản lý và sử dụng con dấu

1- Trưởng phòng Hành chính tổng hợp chịu trách nhiệm trước Cục trưởng việc quản lý con dấu.

Con dấu phải được chuyên viên văn thư bảo quản tại phòng làm việc của Phòng Hành chính tổng hợp. Không đưa dấu ra khỏi phòng Hành chính tổng hợp và khỏi cơ quan. Con dấu phải được bảo quản an toàn trong giờ cũng như ngoài giờ làm việc. Khi đóng dấu xong, chuyên viên phụ trách văn thư phải cất con dấu vào tủ và khoá tủ đựng con dấu.

2- Chuyên viên văn thư quản lý con dấu chỉ được đóng dấu khi văn bản đúng thể thức và có chữ ký của người có thẩm quyền.

Đóng dấu phải đúng chiều, rõ ràng, trùm 1/3 chữ ký ở phía trái.

Đối với các bản phụ lục kèm theo, đóng dấu vào góc trên bên trái phụ lục, đấu dè lên hàng chữ đầu trang bằng 1/3 đường kính con dấu (dấu treo). Nếu phụ lục có từ 2 trang trở lên thì ngoài việc đóng dấu treo, phải đóng dấu giáp lai.

Khi đóng dấu văn bản, tài liệu không lưu ở văn thư (các hợp đồng, biên bản nghiệm thu, giấy chứng nhận...), văn thư phải lập sổ theo dõi riêng.

Nghiêm cấm việc đóng dấu khống chỉ.

3- Khi nét dấu bị mòn hoặc biến dạng, người quản lý và sử dụng con dấu phải báo cáo Cục trưởng làm thủ tục đổi con dấu.

Điều 16. Lập hồ sơ công việc

Cán bộ công chức khi giải quyết công việc nào phải lập hồ sơ về công việc đó. Cán bộ, công chức làm công tác chuyên môn có liên quan đến tài liệu, văn bản đều phải lập hồ sơ.

Những văn bản giao dịch không liên quan, hoặc không có giá trị tham khảo thì không đưa vào hồ sơ.

Chuyên viên văn thư Phòng Hành chính tổng hợp có trách nhiệm hướng dẫn nghiệp vụ cho các cán bộ, công chức lập hồ sơ công việc theo đúng quy định của Cục Lưu trữ Nhà nước.

Chương III

Công tác lưu trữ

Điều 17. Công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ

1- Công tác lưu trữ là một hoạt động nghiệp vụ bao gồm các công việc về thu thập, bổ sung, chỉnh lý, xác định giá trị, bảo quản, tổ chức khai thác sử dụng, tiêu huỷ hồ sơ, tài liệu lưu trữ đã hết giá trị và lựa chọn tài liệu để giao nộp vào Lưu trữ lịch sử.

2- Tài liệu lưu trữ của Cục Bản quyền tác giả là bản gốc, bản chính hoặc bản sao hợp pháp có giá trị thực tiễn, giá trị lịch sử hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, được lựa chọn và bảo quản tại lưu trữ cơ quan.

Điều 18. Nhiệm vụ của lưu trữ

Chuyên viên văn thư kiêm lưu trữ thuộc Phòng Hành chính tổng hợp có nhiệm vụ:

- Hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc các bộ phận và cá nhân trong đơn vị lập hồ sơ và giao nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ;

- Thu nhận hồ sơ, tài liệu đến hạn nộp vào lưu trữ;

- Chỉnh lý, xác định giá trị tài liệu, xây dựng các công cụ thống kê tra cứu;

- Bảo vệ, bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ;

- Phục vụ việc khai thác, sử dụng hồ sơ, tài liệu lưu trữ;

- Thực hiện báo cáo, thống kê định kỳ và đột xuất theo quy định của Nhà nước và của Bộ;

- ứng dụng công nghệ tin học vào công tác lưu trữ.

- Lập kế hoạch xây dựng, cải tạo, nâng cấp kho và các trang thiết bị lưu trữ.

Mục 2: Thu thập, bổ sung, quản lý hồ sơ, tài liệu

Điều 19. Thu thập, bổ sung hồ sơ tài liệu lưu trữ

1- Cán bộ, công chức phải giao nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ Cục Bản quyền tác giả sau năm công tác. Trong trường hợp các cá nhân cần giữ lại hồ sơ, tài liệu đến hạn nộp lưu phải thông báo bằng văn bản cho lưu trữ biết, nhưng thời hạn giữ lại cũng không được quá một năm. Tài liệu nộp vào lưu trữ Cục Bản quyền tác giả phải được lập thành hồ sơ.

Riêng hồ sơ đăng ký quyền tác giả và hồ sơ xử lý đơn thư khiếu nại tố cáo Phòng Quản lý bản quyền chịu trách nhiệm lưu trữ theo chế độ hiện hành về lưu trữ.

2- Cán bộ, công chức khi chuyển công tác, thôi việc hoặc nghỉ hưu đều phải bàn giao hồ sơ, tài liệu cho Lưu trữ Cục Bản quyền tác giả, không được giữ hồ hơ, tài liệu của Cục Bản quyền tác giả làm của riêng hoặc mang sang cơ quan, đơn vị khác.

Cán bộ, công chức được Cục trưởng cử tham dự hội nghị, hội thảo trong và ngoài  nước phải nộp lại các tài liệu, sách báo liên quan cho Phòng Quản lý hiệp hội - thông tin sau khi về để quản lý và khai thác phục vụ công tác chuyên môn của cơ quan.

3- Hàng năm, bộ phận lưu trữ Cục Bản quyền tác giả có nhiệm vụ tổ chức thu thập hồ sơ, tài liệu đã đến hạn nộp lưu vào kho lưu trữ Cục Bản quyền tác giả. Cụ thể là:

- Lập kế hoạch thu thập hồ sơ, tài liệu;

- Phối hợp cùng các đơn vị, cá nhân, xác định những loại hồ sơ, tài liệu cần thu vào lưu trữ;

- Hướng dẫn, hỗ trợ các đơn vị, cá nhân chuẩn bị hồ sơ, tài liệu để giao nộp;

- Chuẩn bị kho tàng và các phương tiện bảo quản để tiếp nhận tài liệu;

- Tổ chức tiếp nhận và làm các thủ tục giao nhận;

Việc giao nộp hồ sơ, tài liệu phải có biên bản kèm theo mục lục hồ sơ, tài liệu nộp.

4- Những hồ sơ, tài liệu có giá trị vĩnh viễn của cơ quan là nguồn nộp lưu vào Lưu trữ lịch sử được giữ lại bảo quản tại lưu trữ Cục Bản quyền tác giả trong thời hạn 10 năm kể từ khi công việc kết thúc. Sau thời hạn trên, những hồ sơ, tài liệu đó phải nộp vào Lưu trữ lịch sử.

Những hồ sơ, tài liệu của Cục Bản quyền tác giả không thuộc diện nộp lưu vào Lưu trữ lịch sử được bảo quản tại kho lưu trữ Cục Bản quyền tác giả cho tới khi hết giá trị, không cần lưu giữ thì làm thủ tục để tiêu huỷ.

Mục 3: Xác định giá trị và tiêu huỷ tài liệu

Điều 20. Xác định giá trị tài liệu

Việc xác định giá trị tài liệu để giữ lại bảo quản những tài liệu có giá trị và loại ra những tài liệu hết giá trị để tiêu huỷ phải do Hội đồng xác định giá trị tài liệu thực hiện.

Điều 21. Thành phần và phương thức làm việc của Hội đồng xác định giá trị tài liệu

1- Thành phần Hội đồng xác định giá trị tài liệu:

- Phó Cục trưởng: Chủ tịch

- Trưởng Phòng Hành chính tổng hợp: Phó Chủ tịch

- Chuyên viên lưu trữ của Cục: Uỷ viên kiêm thư ký

- Đại diện phòng có tài liệu huỷ: Uỷ viên

- Đại diện lưu trữ Bộ Văn hoá - Thông tin: Uỷ viên

2- Phương thức làm việc của Hội đồng xác định giá trị tài liệu:

- Từng thành viên Hội đồng nghiên cứu danh  mục và thực tế hồ sơ, tài liệu đề nghị huỷ để xác định cụ thể những hồ sơ, tài liệu nào cần giữ lại hay có thể loại huỷ.

- Tập thể Hội đồng họp để thảo luận và thống nhất kết luận về danh mục những hồ sơ, tài liệu cần giữ lại và có thể loại huỷ.

- Lập biên bản đề nghị Cục trưởng xem xét, quyết định.

Điều 22. Tiêu  huỷ tài liệu

1- Nghiêm cấm các cá nhân tự tiện huỷ hồ sơ, tài liệu của cơ quan dưới bất cứ hình thức nào.

2- Thủ tục tiêu huỷ tài liệu:

- Lập danh mục hồ sơ tài liệu huỷ kèm theo bản thuyết minh huỷ trình Cục trưởng;

- Cục trưởng ra quyết định thành lập hội đồng xác định giá trị tài  liệu để kiểm tra những hồ sơ, tài liệu đề nghị huỷ;

- Hội đồng xác định giá trị tài liệu họp xem xét và kết luận tài liệu nào cần giữ lại và tài liệu được huỷ;

- Cục trưởng ra quyết định tiêu huỷ tài liệu sau khi có ý kiến thẩm định bằng văn bản của Lưu trữ Bộ Văn hoá - Thông tin.

3- Chỉ tổ chức tiêu huỷ những tài liệu trong danh mục kèm theo quyết định tiêu huỷ do Cục trưởng ký. Tổ chức việc tiêu huỷ phải tuyệt đối an toàn, huỷ hết các thông tin trong từng tài liệu. Hồ sơ về việc tiêu huỷ tài liệu phải được lập và lưu trữ tại Cục Bản quyền tác giả ít nhất 20 năm.

Mục 4: Bảo quản, tổ chức sử dụng tài liệu

Điều 23. Bảo quản tài liệu

1- Hồ sơ, tài liệu chưa đến hạn nộp lưu trữ do các cá nhân, phòng tự bảo quản, phải đảm bảo an toàn cho các hồ sơ, tài liệu đó.

2- Hồ sơ, tài liệu lưu trữ phải được tập trung bảo quản trong kho lưu trữ của Cục Bản quyền tác giả. Bộ phận lưu trữ Cục Bản quyền tác giả có nhiệm vụ lập các công cụ thống kê cần thiết như sổ xuất, nhập tài liệu, mục lục hồ sơ v.v... để quản lý và tra tìm hồ sơ, tài liệu, thực hiện chế độ kiểm tra thường xuyên toàn bộ tài liệu lưu trữ trong kho.

3- Hồ sơ, tài  liệu bảo quản trong kho lưu trữ phải được để trong hộp (cặp) sắp xếp trên giá, tủ một cách khoa học, thuận tiện cho việc quản lý và khai thác, sử dụng.

4- Kho lưu trữ cần được trang bị đầy đủ các thiết bị, phương tiện cần thiết phù hợp theo hướng dẫn của Cục Lưu trữ Nhà nước để bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ.

Điều 24. Tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ

1- Tài liệu lưu trữ được sử dụng để phục vụ nhu cầu công tác của cán bộ, công chức thuộc Cục Bản quyền tác giả. Cán bộ, công chức Cục Bản quyền tác giả được nghiên cứu tài liệu lưu trữ thuộc phạm vi công tác chuyên môn hoặc vấn dề mà bản thân có trách nhiệm theo dõi.

2- Cá nhân, tổ chức ngoài cơ quan có nhu cầu khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phải có ý kiến của Cục trưởng.

3- Tài liệu lưu trữ chỉ được nghiên cứu tại nơi lưu trữ. Trường hợp đặc biệt do nhu cầu công tác cần sử dụng tài liệu ở ngoài nơi lưu trữ phải được Cục trưởng cho phép.

4- Việc sao, chụp tài liệu lưu trữ phải được Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả cho phép.

Chương IV

Điều khoản thi hành

Điều 25. Tổ chức thực hiện

1- Trưởng phòng Hành chính tổng hợp có trách nhiệm tổ chức hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra các cán bộ, công chức của Cục Bản quyền tác giả thực hiện Quy chế này.

2- Những cán bộ, công chức vi phạm quy định tại Quy chế này, tùy theo tính chất và mức độ, sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

3- Khi cần bổ sung, sửa đổi nội dung Quy chế này, Phòng Hành chính tổng hợp trình Cục trưởng xem xét, quyết định./.

 
Tin cũ
 

time2online Joomla Extensions: Simple Video Flash Player Module

Tác giả tự giới thiệu