Kiến thức cơ bản, phổ thông về quyền tác giả, quyền liên quan
Chỉ mục bài viết
Kiến thức cơ bản, phổ thông về quyền tác giả, quyền liên quan
Bài1: GIỚI THIỆU CHUNG
Bài2: VỀ QUYỀN TÁC GIẢ
Bài 3: VỀ QUYỀN LIÊN QUAN
Bài 4: SỞ HỮU QUYỀN, KHAI THÁC QUYỀN, ĐĂNG KÍ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN
Bài 5: QUẢN LÍ TẬP THỂ
Bài 6: CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
Tất cả các trang

 


Website “Quyền tác giả Việt Nam” xin trân trọng giới thiệu một loạt bài viết có tính chất hệ thống liên quan đến kiến thức cơ bản, phổ thông về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan của Ts. Vũ Mạnh Chu



Website “Quyền tác giả Việt Nam” xin trân trọng giới thiệu một loạt bài viết có tính chất hệ thống liên quan đến kiến thức cơ bản, phổ thông về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan của Ts. Vũ Mạnh Chu


 Bài 1: GIỚI THIỆU CHUNG

Để có hiểu biết chung, phần này đề cập đến một số nội dung sau:

Khái niệm về Sở hữu trí tuệ:

      Khi đề cập tới quyền sở hữu trí tuệ là đề cập tới quyền của con người đối với một loại tài sản đặc biệt. Tài sản này được tạo ra do lao động sáng tạo của con người. Hàm lượng chất xám của lao động được kết tinh ở các loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học. Hệ thống sở hữu trí tuệ thế giới và luật của hầu hết các quốc gia thừa nhận quyền tinh thần và quyền kinh tế của những người sáng tạo ra tài sản trí tuệ, đồng thời đảm bảo sự hài hoà lợi ích giữa người sáng tạo, nhà sử dụng và công chúng hưởng thụ.

       Sở hữu trí tuệ là phạm trù rộng, với ba lĩnh vực khác nhau gồm quyền tác giả và quyền liên quan; quyền sở hữu công nghiệp; quyền đối với giống cây trồng. Lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan được bảo hộ theo cơ chế các quyền tự động phát sinh ngay sau khi tác phẩm được hình thành. Trong khi lĩnh vực sở hữu công nghiệp và giống cây trồng, các quyền phải được xác lập bằng việc cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

      Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (Wipo) là một trong số các tổ chức chuyên môn thuộc Liên hợp quốc, được thành lập năm 1967 theo bản kí kết thành lập tại Stockholm. Tuy nhiên, nguồn gốc sâu xa của Wipo phải được tính từ khi thông qua Công ước Pari vào năm 1853, và Công ước Berne năm 1886. Wipo có sứ mệnh thúc đẩy hợp tác quốc tế trong hoạt động sáng tạo, phổ biến, sử dụng và bảo hộ tài sản trí tuệ của con người nhằm phát triển kinh tế, văn hoá của xã hội của con người. Đến thời điểm này đã có 162 quốc gia là thành viên của Wipo, Việt Nam trở thành thành viên của Wipo vào ngày 2-7-1976 .

Nguồn gốc và sự phát triển bản quyền:

     Trên khắp thế giới, quyền của những người sáng tạo được công nhận là quyền cá nhân, ghi tại Điều 27 Tuyên ngôn nhân quyền ngày 10-12-1948. Theo Công ước Berne thì nó là các quyền độc quyền của tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học.

     Hệ thống luật án lệ với bước phát triển đầu tiên về bản quyền bắt nguồn từ phán quyết của Toà án Anh Quốc, về đặc quyền in ấn. Nữ hoàng Anh Anne đã tạo ra bước ngoặt cơ bản ở việc trao quyền in ấn tác phẩm cho tác giả của nó vào năm 1710. Cùng với hệ thống luật án lệ, hệ thống luật thành văn với nhiều xuất xứ, nhưng mốc lịch sử quan trọng nhất nảy sinh ra vấn đề bản quyền bắt nguồn từ cuộc Cách mạng Pháp năm 1789. Với cách tiếp cận từ các quyền tự nhiên, quyền đối với tác phẩm được coi là loại quyền “đặc biệt” của các cá nhân là tác giả của tác phẩm được sáng tạo từ lao động của tư duy. Nó là quyền sở hữu riêng tư và thiêng liêng đối với tác phẩm.

     Ngày nay, trên khắp thế giới, các quyền của những người sáng tạo như nhà văn, nhạc sĩ, nghệ sĩ đã được luật pháp quốc gia bảo hộ. Để điều chỉnh mối quan hệ toàn cầu, các nội dung cơ bản về quyền tinh thần và quyền kinh tế của tác giả đã được luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế quy định đồng nhất.

     Các quyền của tác giả được pháp luật thừa nhận, mỗi cá nhân tác giả phải tự quản lí lấy các quyền của mình, khai thác nó để đạt được các lợi ích kinh tế, bù đắp các tiêu hao trong quá trình sáng tạo; đồng thời tiếp tục đầu tư cho hoạt động sáng tạo ra các giá trị văn học, nghệ thuật và khoa học mới phục vụ được nhu cầu đa dạng, phong phú của xã hội loài người.

     Tuy nhiên lịch sử đã tìm ra “lối đi” cho việc quản lí quyền. Điều này được xác nhận từ kinh nghiệm lịch sử, kể cả trong điều kiện các sáng tạo là sản phẩm đa phương tiện, cùng những tiến bộ mới đang được áp dụng rộng rãi là công nghệ số. Thay vì tác giả tự quản lí quyền của mình – quản lí cá nhân – trong nhiều trường hợp không hiệu quả bằng quản lí tập thể. Nhu cầu nhanh chóng tiếp cận tác phẩm để sử dụng, nhu cầu sử dụng tác phẩm ở nhiều hình thức khác nhau là đòi hỏi thực tế. Trong khi việc tiếp cận với tác giả không phải là bất kì thời gian và địa điểm nào. Mặt khác, với tư cách là người sáng tạo, tác giả cần ưu tiên đầu tư thời gian, vật chất, kể cả địa điểm thuận lợi cho lao động tư duy của mình. Vì vậy, sự khai thông và thay thế cho quản lí cá nhân bằng quản lí tập thể là cách thức thỏa đáng. Sự xuất hiện của giải pháp có lợi – quản lí tập thể - cho cả người sáng tạo và nhà sử dụng, cũng như nhu cầu của công chúng về việc được hưởng thụ sớm các tác phẩm là lời giải của những mâu thuẫn. “Quản lí tập thể” là kinh nghiệm lịch sử của nhân loại, bắt nguồn từ các nước có nền công nghiệp bản quyền phát triển, đã mở đường để đạt được sự hài hòa về lợi ích trong quan hệ giữa Người sáng tạo – Nhà sử dụng – Công chúng hưởng thụ.

Hệ thống bản quyền ở Việt Nam:

     Ngay từ bản hiến pháp đầu tiên vào năm 1946, Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận những quyền cơ bản của công dân liên quan đến quyền tác giả, thể hiện tư tưởng tiến bộ nhân văn về quyền con người. Đó là quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản của công dân, là việc Nhà nước cam kết bảo vệ quyền lợi của trí thức, tôn trọng quyền tư hữu tư nhân về tài sản. Tư tưởng lập pháp đó đã tiếp tục được thể hiện tại Hiến pháp 1959, 1980 và Hiến pháp 1992 đang có hiệu lực thi hành.

     Năm 1986 với Nghị định 142/HĐBT, lần đầu tiên ở Việt Nam một văn bản riêng biệt về quyền tác giả đã được ban hành với những quy định cơ bản, ban đầu với sự giúp đỡ của hãng VAB (Hãng bảo hộ quyền tác giả của Liên Xô cũ). Trước yêu cầu của sự phát triển, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh về quyền tác giả vào tháng 10-1994. Tại kì họp thứ 8 khoá IX, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Bộ luật Dân sự, trong đó có các quy định về quyền tác giả. Với 36 điều quy định riêng về quyền tác giả tại chương I, phần thứ 6 và phần thứ 7 Bộ luật Dân sự, nó đã điều chỉnh hầu hết các quan hệ dân sự về quyền tác giả, trong điều kiện đất nước chuyển đổi cơ chế quản lí từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường.

     Để thúc đẩy các bước phát triển mới trong hoạt động bảo hộ tại quốc gia và hội nhập quốc tế, tại kì họp thứ 8 khóa XI ngày 29-11-2005, Quốc hội đã thông qua Luật Sở hữu trí tuệ. Với 222 điều, Luật Sở hữu trí tuệ điều chỉnh các quan hệ sáng tạo, bảo hộ tài sản trí tuệ của ba đối tượng gồm quyền tác giả, quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Nhằm khắc phục kịp thời một số hạn chế, cản trở thực thi tại quốc gia và hội nhập quốc tế, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Sở hữu trí tuệ tại kì họp thứ 5 ngày 19-6-2009 với 33 điều sửa đổi, bổ sung.

    Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Di sản Văn hoá, Luật Điện ảnh, Pháp lệnh Quảng cáo cũng có một số điều khoản quy định về quyền tác giả, nhằm tăng cường quản lí ở các lĩnh vực đặc biệt quan trọng này. Luật Hải quan đã có quy định các biện pháp bảo hộ tại biên giới đối với hàng hóa xuất nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ.

     Hệ thống các chế tài về hành chính, dân sự và hình sự đã được hình thành, đảm bảo cho các quy định pháp luật về quyền tác giả được thi hành với bộ máy cưỡng chế của Nhà nước. Tại Bộ luật Hình sự sửa đổi tháng 6 năm 2009 có quy định mức phạt tối đa là 200 triệu đồng và 3 năm tù giam, đối với các hành vi thuộc tội phạm quyền tác giả. Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2008 đã quy định mức phạt phạt tối đa là 500 triệu đồng đối với hành vi xâm hại quyền tác giả, quyền liên quan.

     Đồng thời với hệ thống pháp luật quốc gia đã được định hình như trên, Hiệp định song phương về thiết lập quan hệ quyền tác giả, Hiệp định Thương mại giữa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kì, Hiệp định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam và Liên bang Thụy Sỹ cũng đang có hiệu lực thi hành.

      Cùng với các điều ước quốc tế song phương trên, Việt Nam đã là thành viên của 5 điều ước quốc tế đa phương gồm Công ước Berne bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; Công ước Rome bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng; Công ước Brussel bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương trình truyền qua vệ tinh đã mã hóa; Công ước Geneva bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép bất hợp pháp bản ghi âm của họ. Hiệp định Trips về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ. Các công ước song phương và đa phương trên đã trở thành một bộ phận của pháp luật quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan.

     Có thể khẳng định rằng hoạt động lập pháp, lập quy về quyền tác giả, quyền liên quan đã có bước phát triển vượt bậc, tạo lập được hành lang pháp lí an toàn, khuyến khích các hoạt động sáng tạo phát triển, đồng thời bảo hộ thành quả lao động sáng tạo đã kết tinh trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học. Luật pháp đó đảm bảo hài hòa lợi ích giữa người sáng tạo, nhà sử dụng, và công chúng hưởng thụ; bảo vệ lợi ích quốc gia trong hội nhập; thể hiện tính thống nhất, minh bạch và khả thi. Về cơ bản nó phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, tạo cơ sở pháp lí cho các hoạt động bảo hộ tại quốc gia và hội nhập quốc tế có bước phát triển mới./.

Ts. Vũ Mạnh Chu

 


 

Bài 2:   VỀ QUYỀN TÁC GIẢ

Phần này đề cập đến các nội dung chính sau: tác phẩm được bảo hộ; tác giả của tác phẩm; các quyền của tác giả; các giới hạn bảo hộ quyền tác giả; thời hạn bảo hộ

1. Tác phẩm được bảo hộ

      Tác phẩm được luật pháp quốc gia và Công ước Berne bảo hộ quyền tác giả là những tác phẩm thuộc về văn học, nghệ thuật và khoa học. Theo luật Việt Nam, nó bao gồm các loại hình: văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc kí tự khác, bài phát biểu, bài giảng, tác phẩm sân khấu, điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, âm nhạc, tạo hình, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm kiến trúc, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian, chương trình máy tính.

      Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ quyền tác giả trong trường hợp không gây phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm được sử dụng để sáng tạo tác phẩm phái sinh. Tuy nhiên chỉ những tác phẩm được tác giả trực tiếp sáng tạo, không sao chép từ tác phẩm khác mới thuộc loại hình được bảo hộ.

     Các tin tức thời sự chỉ mang tính chất thông tin không có tính sáng tạo, vì vậy không được bảo hộ. Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản của các cơ quan hành chính, thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của nó, và các khái niệm, nguyên lí, số liệu cũng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả.

2. Tác giả của tác phẩm

      Tác giả là những người bằng lao động trí tuệ của mình, trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện dưới dạng vật chất nhất định.

      Những người làm các công việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn cũng được coi là tác giả của tác phẩm phái sinh này.

      Trong trường hợp có từ hai người trở lên cùng trực tiếp tham gia sáng tạo tác phẩm thì họ là đồng tác giả của tác phẩm.

Tác giả được bảo hộ phải là công dân Việt Nam và công dân nước ngoài sáng tạo tác phẩm trên lãnh thổ Việt Nam hoặc của tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam, hoặc theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên.

Với khái niệm trên, chỉ những người trực tiếp làm ra tác phẩm thông qua hoạt động của tư duy sáng tạo mới được coi là tác giả. Những người cung cấp tư liệu, góp ý kiến cho việc sáng tạo, làm phản biện, hướng dẫn khoa học không thể là tác giả của tác phẩm. Kết quả của lao động do tư duy sáng tạo mang lại phải định hình dưới dạng vật chất nhất định (trên giấy, phim nhựa, băng đĩa từ, băng đĩa lade, gỗ, kim loại hoặc bất kì loại hình vật chất nào đã có và sẽ có trong tương lai). Điều đó có nghĩa quyền tác giả không phát sinh đối với những ý tưởng sáng tạo, pháp luật không bảo hộ ý tưởng. Pháp luật chỉ bảo hộ những ý tưởng về văn học, nghệ thuật và khoa học đã được hình thành bằng tác phẩm và định hình ở bất kì dạng vật chất nào.

3. Các quyền của tác giả

Tác giả có quyền tinh thần và quyền kinh tế đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra. Theo pháp luật Việt Nam là quyền nhân thân và quyền tài sản.

 Quyền nhân thân bao gồm:

-  Quyền đứng tên tác giả trên bản gốc và bản sao tác phẩm. Tác giả có quyền lựa chọn việc đứng tên thật, bút danh hoặc có thể chủ động không đứng tên, để tác phẩm của mình ở “tình trạng khuyết danh”. Quyền này của tác giả là quyền yêu cầu được ghi tên tác giả trên bản gốc, bản sao tác phẩm, quyền được nêu tên khi biểu diễn, phát sóng tác phẩm.

 -  Quyền đặt tên tác phẩm là quyền quan trọng của tác giả để “khai sinh” cho tác phẩm của mình.

 -  Quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm là quyền ngăn cấm hoặc cho phép người khác khai thác, sửa chữa tác phẩm của mình. Quyền này còn ngăn chặn người khác xuyên tạc, xâm phạm tới uy tín, danh dự của mình. Người biên tập có thể thực hiện việc sửa chữa tác phẩm, do sự thay đổi các chuẩn mực xã hội, ngôn từ và chính tả, nhưng phải được sự đồng ý của tác giả.

 -  Quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm của mình. Việc công bố hay chưa công bố tác phẩm tùy thuộc vào quyết định của tác giả.

 -    Trong các quyền trên, quyền đứng tên, quyền đặt tên và quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm là quyền được pháp luật quốc gia và quốc tế bảo hộ vô thời hạn và không được chuyển giao. Quyền công bố tác phẩm là quyền có thể để lại thừa kế, chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác.

 Quyền tài sản:là các quyền độc quyền do chủ sở hữu thực hiện hoặc cho phép người khác khai thác, sử dụng hoặc chuyển giao, bao gồm:

-    Quyền làm tác phẩm phái sinh

  Làm tác phẩm phái sinh là quyền do tác giả tự thực hiện hoặc cho phép người khác sử dụng tác phẩm của mình để sáng tạo ra tác phẩm mới. Tác phẩm mới này được gọi là tác phẩm phái sinh, như tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm chuyển thể, cải biên, phóng tác, phiên âm, chú giải.

  Người làm tác phẩm phái sinh chỉ có quyền tác giả khi không gây phương hại tới quyền tác giả của tác phẩm được sử dụng để sáng tạo ra tác phẩm phái sinh. Điều này có nghĩa, phải có sự thỏa thuận trước khi sử dụng để sáng tạo tác phẩm phái sinh.

 Cải biên là việc sáng tạo ra tác phẩm mới, từ tác phẩm đã có bằng việc tạo thêm những yếu tố ngôn từ sáng tạo mới. Phóng tác có nghĩa là việc thay đổi hình thức thể hiện của tác phẩm, chẳng hạn như chuyển đổi tác phẩm nhiếp ảnh thành tác phẩm hội họa, hoặc tác phẩm điêu khắc. Chuyển thể là việc thay đổi hình thức thể hiện của tác phẩm đã có nhưng vẫn giữ nội dung tác phẩm được sử dụng để thực hiện việc chuyển thể. Chẳng hạn như chuyển thể tác phẩm văn học thành tác phẩm điện ảnh.

       - Quyền sao chép tác phẩm

Quyền sao chép là một trong các quyền quan trọng của tác giả. Việc xuất bản một tác phẩm là một hình thức sao chép tác phẩm, nó là hình thức sao chép cổ điển nhất.

Việc ghi âm, ghi hình bài giảng, bài phát biểu, bài thuyết trình, việc vẽ lại tranh là hình thức sao chép thuộc quyền sao chép tác phẩm.

Việc sao chép một phần hay toàn bộ tác phẩm phải được sự đồng ý của tác giả, không phân biệt hình thức, phương tiện được sử dụng để sao chép, kể cả sao chép điện tử.

      - Quyền biểu diễn

Quyền biểu diễn tác phẩm theo luật nhiều quốc gia là quyền biểu diễn trước công chúng ở bất kì địa điểm và thời gian nào với số lượng quần chúng đủ lớn, ngoại trừ phạm vi gia đình, như biểu diễn nhạc kịch tại nhà hát, đọc truyện, ngâm thơ trên đài phát thanh, truyền hình. Nó còn bao gồm cuộc biểu diễn gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình được phát qua các thiết bị tương thích ở các địa điểm kinh doanh, thương mại như trên máy bay, sàn nhảy, siêu thị, khách sạn, nhà hàng, dịch vụ karaoke v.v...

- Quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc bản sao tác phẩm

Quyền phân phối bản gốc, bản sao tác phẩm do chủ sở hữu thực hiện hoặc cho người khác thực hiện bằng việc sử dụng bất kì hình thức, phương tiện kĩ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được để bán, cho thuê hoặc các hình thức chuyển nhượng khác. Đối với tác phẩm tạo hình, tác phẩm nhiếp ảnh thì quyền phân phối còn bao gồm cả việc trưng bày, triển lãm trước công chúng.

- Quyền truyền đạt tác phẩm

Là quyền đưa tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kì phương tiện kĩ thuật nào để công chúng có thể tiếp cận được tại bất kì địa điểm và thời gian nào do họ lựa chọn.

- Quyền cho thuê tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính

Quyền cho thuê tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính là quyền độc quyền của chủ sở hữu. Nó là việc cho thuê để sử dụng có thời hạn, do chủ sở hữu quyền tác giả và bên sử dụng thỏa thuận theo hợp đồng.

 Các quyền tài sản và quyền nhân thân của tác giả nêu trên tự động phát sinh ngay sau khi tác phẩm được hình thành dưới dạng vật chất nhất định. Các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm phải thực hiện nghĩa vụ pháp lí với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng tiền nhuận bút, thù lao và lợi ích vật chất khác từ việc cho phép tổ chức, cá nhân khác khai thác, sử dụng tác phẩm.

4. Các giới hạn bảo hộ quyền tác giả

Luật quốc gia và Công ước Berne có một số giới hạn sau:

-Luật một số quốc gia, trong đó có Việt Nam không bảo hộ đối với các tin tức thời sự thuần túy đưa tin, các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, tư pháp và bản dịch chính thức chúng. Nó còn bao gồm các khái niệm, nguyên lí, số liệu, quy trình, hệ thống phương pháp hoạt động.

Việc định hình tác phẩm là điều kiện bắt buộc của việc bảo hộ được luật của hầu hết các quốc gia và Công ước Berne quy định. Theo luật Việt Nam, bài phát biểu, bài nói khác cũng phải được định hình mới được bảo hộ.

-Liên quan đến giới hạn quyền, Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới đã đề xuất “nguyên tắc phép thử ba bước” để các quốc gia xây dựng luật pháp phù hợp. Giới hạn quyền chỉ là những trường hợp đặc biệt phải ghi rõ tại luật; nó không thể làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường; không gây phương hại đến quyền của chủ sở hữu. Việc khai thác, sử dụng tác phẩm được luật các quốc gia quy định giới hạn trong các trường hợp sử dụng nhằm phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc chính sách xã hội, nhân đạo. Thông thường được phân thành 2 loại:

+ Loại thứ nhất là việc sử dụng tự do, tức việc khai thác, sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền, như việc sao chép không quá 1 bản, nhập khẩu không quá 1 bản cho mục đích nghiên cứu cá nhân, giáo dục; chuyển sang chữ nổi cho người khiếm thị; trích dẫn hợp lí phục vụ cho một phóng sự báo chí, luận văn, công trình nghiên cứu khoa học... Tuy nhiên việc khai thác, sử dụng ở loại này không áp dụng đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm nghệ thuật tạo hình, chương trình máy tính. Mọi trường hợp sử dụng đều phải dẫn chiếu nguồn gốc xuất xứ, bao gồm tên tác phẩm, tên tác giả, năm xuất bản, nhà xuất bản đối với tác phẩm được sử dụng để trích dẫn. Tất cả các trường hợp trích dẫn đều phải đặt trong ngoặc kép ( “... ”).

+ Loại thứ hai “cấp phép bắt buộc” là việc khai thác, sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, nhưng phải trả tiền. Trường hợp này luật Việt Nam cho phép các tổ chức phát sóng, các tổ chức cá nhân hoạt động kinh doanh, thương mại được phép sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, nhưng phải trả tiền theo thỏa thuận kể từ khi sử dụng tác phẩm. Tuy nhiên việc khai thác, sử dụng tác phẩm đã công bố trong các trường hợp này không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm của chủ sở hữu, không gây phương hại đến quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

-Giới hạn về thời hạn bảo hộ là việc quy định thời hạn bảo hộ, với quan niệm quyền tác giả không thể là giá trị vô hạn. Luật pháp đưa ra thời hạn bảo hộ nhất định đối với từng loại hình cụ thể. Đó là khoảng thời gian bắt đầu từ khi tác phẩm được định hình, đến lúc chấm dứt việc bảo hộ đối với quyền tài sản. Chỉ trong thời gian đó quyền tác giả mới tồn tại, kể cả khi tác giả đã chết nhằm bảo đảm quyền lợi cho người thừa kế. Sau khi kết thúc thời hạn bảo hộ, nó thuộc về công cộng, việc khai thác sử dụng sẽ ở tình trạng tự do. Tuy nhiên các tổ chức, cá nhân sử dụng phải tôn trọng quyền đứng tên, đặt tên và quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm.

5. Thời hạn bảo hộ

Luật Việt Nam quy định thời hạn đó là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết. Trong trường hợp đồng tác giả thì thời hạn 50 năm, tính từ khi tác giả cuối cùng chết. Đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là 75 năm, kể từ khi tác phẩm công bố lần đầu. Trong thời hạn 25 năm kể từ khi được định hình, nếu tác phẩm loại này chưa công bố thì thời hạn bảo hộ là 100 năm, tính từ khi tác phẩm được định hình. Quy định như vậy nhằm khuyến khích tác giả sớm công bố tác phẩm phục vụ xã hội. Đối với tác phẩm khuyết danh, khi danh tính của tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo nguyên tắc đời người, có nghĩa thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết. Thời điểm kết thúc thời hạn bảo hộ vào lúc 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm kết thúc thời hạn bảo hộ.

TS.Vũ Mạnh Chu


 

 

 

 


 

Bài 3: VỀ QUYỀN LIÊN QUAN

     Quyền liên quan là quyền của tổ chức, cá nhân đối với các sản phẩm do lao động sáng tạo của họ tạo ra trong việc chuyển tải tác phẩm thuộc quyền tác giả đến công chúng. Các quyền liên quan được bảo hộ gồm: Quyền của người biểu diễn, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm và quyền của tổ chức phát sóng.

1. Quyền của người biểu diễn:

     - Người biểu diễn là người thực hiện các hoạt động sáng tạo trong việc thể hiện, để đưa các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học của các tác giả đến công chúng. Người biểu diễn bao gồm các diễn viên, ca sĩ, vũ công, nhạc công và những người khác đóng vai diễn, đọc, ngâm, trình bày hoặc các thể hiện khác tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học.

     Chủ thể biểu diễn là những người thực hiện các hoạt động biểu diễn. Trong trường hợp họ đồng thời là người đầu tư tài chính, các điều kiện vật chất khác quyết định việc hình thành cuộc biểu diễn thì họ là chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn và được hưởng các quyền tài sản. Nếu họ không là người đầu tư tài chính và các điều kiện vật chất thì họ chỉ được hưởng các quyền nhân thân.

     - Các khách thể quyền biểu diễn là các cuộc biểu diễn tác phẩm của tác giả, do người biểu diễn thực hiện tại lãnh thổ quốc gia và nước ngoài. Khi đề cập tới việc xâm hại quyền của người biểu diễn, chúng ta hiểu rằng các khách thể quyền bị khai thác, sử dụng bất hợp pháp. Trường hợp cuộc biểu diễn được định hình trên bản ghi âm, ghi hình thì nó được bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình. Nếu người biểu diễn đầu tư tài chính và các điều kiện vật chất cho việc định hình bản ghi âm, ghi hình thì họ đồng thời là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình. Nếu cuộc biểu diễn không được định hình trên bản ghi âm, ghi hình mà được phát sóng thì nó được bảo hộ theo quyền của tổ chức phát sóng.

    - Đối tượng bảo hộ quyền biểu diễn chính là các quyền nhân thân và quyền tài sản của người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn. Quyền nhân thân của người biểu diễn bao gồm quyền được giới thiệu tên khi biểu diễn, ghi tên trên bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng; quyền bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc bằng bất kì hình thức nào gây phương hại tới danh dự, uy tín của người biểu diễn.

     Người biểu diễn có các quyền độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền tài sản sau:

     + Quyền định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình.

     + Quyền sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình.

     Sao chép trực tiếp cuộc biểu diễn đã được định hình là việc tạo ra các bản sao khác từ chính bản ghi âm, ghi hình đó. Sao chép gián tiếp cuộc biểu diễn đã được định hình là việc tạo ra các bản sao khác không từ chính bản ghi âm, ghi hình đó; như việc sao chép từ mạng thông tin điện tử, chương trình phát sóng, dịch vụ mạng bưu chính viễn thông và các hình thức tương tự khác.

    + Quyền phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình.

    + Quyền phân phối đến công chúng bản gốc hoặc bản sao cuộc biểu diễn của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kì phương tiện kĩ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được.

    Truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn chưa định hình là việc phổ biến nó đến công chúng bằng bất kì phương tiện kĩ thuật nào, trừ phát sóng. Trong trường hợp nhiều người tham gia biểu diễn, thì có thể chọn người đại diện thực hiện các quyền nêu trên.

   Quyền nhân thân và quyền tài sản nêu trên chỉ thuộc về người biểu diễn khi họ không gây phương hại tới quyền tác giả. Những tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng các quyền tài sản của người biểu diễn phải trả thù lao cho người biểu diễn theo quy định pháp luật và theo thỏa thuận.

    - Giới hạn quyền của người biểu diễn:

    Các giới hạn quyền được coi là những trường hợp ngoại lệ, mà hầu hết các quốc gia đều áp dụng khi đưa ra quy định về giới hạn quyền tại luật quốc gia. Việc quy định giới hạn quyền được thực hiện theo nguyên tắc “phép thử ba bước”, do Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) đề xuất, đó là: Các giới hạn chỉ là những trường hợp đặc biệt được quy định cụ thể trong luật; không ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường; không gây phương hại đến quyền của chủ sở hữu. Giới hạn quyền của người biểu diễn được quy định tại luật Việt Nam:

    Trong trường hợp sử dụng cuộc biểu diễn không nhằm mục đích thương mại, thì không phải xin phép, không phải trả nhuận bút, thù lao. Nó gồm việc sao chép 01 bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân; trích dẫn hợp lí với mục đích cung cấp thông tin, tự làm bản sao tạm thời để phát sóng khi tổ chức phát sóng được hưởng quyền phát sóng. Trích dẫn được coi là hợp lí khi phần trích dẫn chỉ nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề trong việc cung cấp thông tin; số lượng và thực chất của phần trích dẫn không gây phương hại đến quyền của người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn được sử dụng để trích dẫn và phù hợp với tính chất, đặc điểm của loại hình quyền liên quan được sử dụng để trích dẫn.

    - Về thời hạn bảo hộ, người biểu diễn được hưởng thời hạn bảo hộ 50 năm, tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình, và kết thúc vào lúc 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ. Thời hạn này được quy định tại Công ước Rome là 20 năm, kể từ khi cuộc biểu diễn được định hình hoặc thực hiện.

2. Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm:

    - Nhà sản xuất bản ghi âm là tổ chức thực hiện các hoạt động sáng tạo của những người liên quan, đồng thời áp dụng những công nghệ phù hợp để chuyển tải tác phẩm thuộc quyền tác giả đến công chúng, thông qua việc sản xuất ra bản ghi âm.

    Nhà sản xuất bản ghi âm là một cá nhân hoặc một pháp nhân định hình lần đầu âm thanh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh khác.

    Bản ghi âm là bất kì một bản định hình nào về các âm thanh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh khác dành riêng cho cơ quan thính giác.

   Âm thanh các cuộc biểu diễn và các hình ảnh có thể cùng được định hình, vì vậy một số quốc gia trong đó có Việt Nam gọi là “Bản ghi âm, ghi hình”. Tuy nhiên, bản ghi âm, ghi hình này không bao gồm tác phẩm điện ảnh, hoặc tác phẩm được tạo ra tương tự như tác phẩm điện ảnh.

    - Chủ thể quyền đối với bản ghi âm là những cá nhân, tổ chức đầu tư tài chính và các điều kiện vật chất khác quyết định việc hình thành bản ghi âm. Họ là chủ sở hữu đối với bản ghi âm và được hưởng các quyền tài sản đối với bản ghi âm.

    - Khách thể quyền của nhà sản xuất bản ghi âm là các bản ghi âm. Tại Việt Nam, nó có thể bao gồm cả ghi hình, nên được gọi bản ghi âm, ghi hình. Theo Công ước Rome, quốc tịch là tiêu chí để xác định bản ghi âm của một nước thành viên. Tương tự như vậy, định hình lần đầu cũng là tiêu chí để các quốc gia dành sự đối xử cho các nước thành viên khác.

   - Đối tượng bảo hộ quyền ghi âm chính là các quyền độc quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, bao gồm:

        + Quyền sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm của mình;

        + Quyền phân phối đến công chúng bản gốc, bản sao bản ghi âm của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kì phương tiện kĩ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được. Chẳng hạn, phân phối trên mạng thông tin điện tử.

    Sao chép trực tiếp bản ghi âm là việc tạo ra các bản sao khác từ chính bản ghi âm đó. Sao chép gián tiếp bản ghi âm là việc tạo ra các bản sao khác không từ chính bản ghi âm đó, như việc sao chép từ mạng thông tin điện tử, từ chương trình phát sóng, từ dịch vụ mạng bưu chính viễn thông hoặc các hình thức tương tự khác.

   - Về giới hạn quyền của nhà sản xuất bản ghi âm: Tương tự như các giới hạn quyền của người biểu diễn, khi các quốc gia đưa ra các quy định tại luật quốc gia, phải đảm bảo thỏa mãn các điều kiện, gồm: các giới hạn chỉ là những trường hợp đặc biệt được quy định cụ thể trong luật, không ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường và không gây phương hại tới quyền của nhà sản xuất bản ghi âm. Có hai trường hợp về giới hạn quyền được quy định tại luật Việt Nam. Truờng hợp thứ nhất là việc sử dụng không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao gồm việc tự sao chép một bản nhằm mục đích giảng dạy của cá nhân, lưu trữ tại thư viện; trích dẫn hợp lí nhằm mục đích cung cấp thông tin, giảng dạy. Trường hợp thứ hai là việc sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm đã công bố nhằm mục đích thương mại, để phát sóng có tiền tài trợ, tiền quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kì một hình thức nào, không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo thỏa thuận kể từ khi sử dụng. Trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.

    Trường hợp sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm đã công bố nhằm mục đích thương mại, để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kì hình thức nào, không phải xin phép nhưng phải trả nhuận bút, thù lao cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng, kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ. Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, đã công bố nhằm mục đích thương mại trong hoạt động kinh doanh, thương mại không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo thỏa thuận cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng. Trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện ra tòa.

    - Thời hạn bảo hộ quyền nhà sản xuất bản ghi âm, theo luật Việt Nam là 50 năm tính từ năm tiếp theo năm công bố lần đầu tiên bản ghi âm, hoặc 50 năm kể từ năm tiếp theo năm bản ghi âm được định hình, nếu bản ghi âm chưa được công bố. Công ước Geneva và Công ước Rome quy định thời hạn bảo hộ tối thiểu không ít hơn 20 năm, kể từ khi kết thúc năm mà bản ghi âm được định hình lần đầu, hoặc của năm mà bản ghi âm được công bố lần đầu. Thời gian kết thúc thời hạn bảo hộ kết thúc vào lúc 24 giờ ngày 31 tháng 12 năm chấm dứt thời hạn bảo hộ.

3. Quyền của tổ chức phát sóng:

    - Tổ chức phát sóng là chủ sở hữu đối với chương trình phát sóng do mình thực hiện. Tổ chức phát sóng bao gồm các đài phát thanh, đài truyền hình.

    - Khách thể quyền phát sóng là các chương trình phát sóng. Khi đề cập tới việc xâm hại quyền của tổ chức phát sóng thì nó chính là hành vi sử dụng bất hợp pháp các khách thể này.

    - Đối tượng bảo hộ quyền của tổ chức phát sóng là các quyền độc quyền do tổ chức phát sóng tự thực hiện hoặc cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện. Các quyền này bao gồm:

        + Quyền phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình;

        + Quyền phân phối đến công chúng chương trình phát sóng của mình;

        + Quyền định hình chương trình phát sóng của mình;

        + Quyền sao chép chương trình phát sóng của mình.

    Theo Công ước Rome, phát sóng là việc truyền bằng phương tiện vô tuyến âm thanh hoặc những hình ảnh và âm thanh để công chúng có thể tiếp nhận được. Tuy nhiên, thuật ngữ này đã được mở rộng tới các phương tiện hữu tuyến, mạng thông tin điện tử.

    Tái phát sóng là việc phát sóng đồng thời bởi một tổ chức phát sóng một chương trình phát sóng của tổ chức phát sóng khác. Các đài truyền hình địa phương tiếp sóng chương trình của VTV cũng được hiểu là tái phát sóng.

   Tổ chức phát sóng được hưởng quyền lợi vật chất khi cho phép các tổ chức, cá nhân sử dụng quyền tài sản của mình như việc cho phép tái phát sóng, phân phối chương trình phát sóng đến công chúng, định hình và sao chép chương trình phát sóng.

   - Giới hạn quyền của tổ chức phát sóng là các ngoại lệ, được quy định cụ thể trong những trường hợp đặc biệt được ghi tại luật quốc gia. Tuy nhiên, việc sử dụng chương trình phát sóng không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường chương trình phát sóng của tổ chức phát sóng, đồng thời không gây phương hại đến quyền của tổ chức phát sóng.

    Luật Việt Nam đưa ra ngoại lệ, trong trường hợp việc sử dụng chương trình phát sóng không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao khi sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy cá nhân; trích dẫn hợp lí nhằm mục đích cung cấp thông tin; tổ chức phát sóng tự làm bản sao tạm thời để phát sóng khi được hưởng quyền phát sóng.

    - Thời hạn bảo hộ quyền của tổ chức phát sóng là 50 năm, tính từ năm tiếp theo năm chương trình phát sóng được thực hiện và kết thúc vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ.

    Theo Công ước Rome, thời hạn bảo hộ quyền của tổ chức phát sóng đối với chương trình phát sóng được kéo dài ít nhất cho đến khi kết thúc thời hạn 20 năm, kể từ cuối năm phát sóng đối với các chương trình phát sóng.

TS. Vũ Mạnh Chu


 

 Bài 4: Së H÷U QUYÒN, KHAI TH¸C QUYÒN, §¡NG KÝ QUYÒN T¸C GI¶, QUYÒN LI£N QUAN  

       1.Chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan

Chủ sở hữu quyền tác giả: là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản theo quy định pháp luật. Để phân biệt các dạng chủ sở hữu, luật Việt Nam đưa ra quy định như sau:

Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả: trong trường hợp này, tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả. Nó là dạng cổ điển, bởi lẽ thông thường người sáng tạo là người đầu tư thời gian, tài chính và các điều kiện vật chất khác quyết định việc hình thành tác phẩm, như việc nhà văn viết tiểu thuyết, nhạc sĩ viết nhạc.

Chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả, dạng này cũng tương tự như dạng nêu trên. Thay vì một người độc lập sáng tạo ra tác phẩm, bằng từ hai người trở lên cùng sáng tạo ra tác phẩm.

Trong trường hợp có phần riêng biệt, có thể tách ra độc lập, không gây phương hại tới phần khác, các đồng tác giả không có thỏa thuận khác thì tác giả của phần riêng biệt là chủ sở hữu đối với phần riêng biệt đó.

Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả. Dạng này bao gồm việc sáng tạo tác phẩm theo nhiệm vụ do tổ chức quản lí nhân sự giao, như việc họa sĩ của nhà xuất bản vẽ bìa sách, trình bày minh họa sách và việc sáng tạo được thực hiện theo hợp đồng lao động, như việc “viết thuê”.

Chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế: di sản của người chết để lại, trong đó có di sản là tài sản trí tuệ. Tùy theo hàng thừa kế, theo quy định pháp luật thừa kế, “người nào đó” được hưởng quyền đối với di sản văn học, nghệ thuật và khoa học của người chết để lại là chủ sở hữu quyền tác giả.

Chủ sở hữu quyền tác giả là người nhận chuyển nhượng quyền tác giả: dạng này bao gồm các trường hợp của chủ sở hữu quyền tác giả chuyển nhượng một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản theo cam kết tại hợp đồng. Tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng là chủ sở hữu.

Chủ sở hữu quyền tác giả là Nhà nước, dạng này bao gồm các trường hợp, tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ nhưng chủ sở hữu quyền đã chết, không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản, hoặc không được quyền hưởng di sản hoặc trường hợp chủ sở hữu chuyển giao quyền tác giả cho Nhà nước. Người quản lí tác phẩm khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu đến khi danh tính của tác giả xuất hiện. Nhà nước là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm khuyết danh khi không thuộc các trường hợp nêu trên.

Tác phẩm thuộc về công chúng là những tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ. Điều đó có nghĩa không có tổ chức, cá nhân nào là chủ sở hữu các quyền tác giả. Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền sử dụng nó, nhưng phải tôn trọng các quyền nhân thân theo quy định pháp luật.

Chủ sở hữu quyền liên quan: các tổ chức, cá nhân đầu tư thời gian, tài chính và các điều kiện vật chất khác để thực hiện cuộc biểu diễn là chủ sở hữu đối với cuộc biểu diễn. Tương tự như vậy, nhà sản xuất bản ghi âm là chủ sở hữu đối với bản ghi âm của mình, tổ chức phát sóng là chủ sở hữu đối với chương trình phát sóng của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Khai thác quyền

Chủ sở hữu có toàn quyền thực hiện việc cho phép người khác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ quyền tài sản, như việc cho phép nhà xuất bản thực hiện xuất bản quyền sao chép có thời hạn tác phẩm, cho nhà biên kịch chuyển thể tác phẩm văn học của mình thành kịch bản sân khấu, điện ảnh...

Chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có quyền chuyển nhượng quyền tài sản của mình cho tổ chức cá nhân khác. Chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu đối với một, một số hoặc toàn bộ quyền tài sản cho tổ chức, cá nhân khác theo hợp đồng. Nhà thơ Hữu Loan chuyển nhượng quyền sở hữu đối với bài thơ “Màu tím hoa sim” cho Công ty Vetek là một ví dụ.

Trường hợp có đồng chủ sở hữu thì việc chuyển quyền sử dụng và chuyển nhượng quyền tài sản phải được sự đồng ý của các đồng chủ sở hữu. Nếu có các phần riêng biệt có thể tách ra để sử dụng độc lập thì chủ sở hữu quyền tác giả có thể chuyển nhượng phần của mình cho tổ chức, cá nhân khác.

Các quyền nhân thân của tác giả, trừ quyền công bố tác phẩm và các quyền nhân thân của người biểu diễn luôn gắn liền với họ, vì vậy không được chuyển nhượng cho bất kì tổ chức, cá nhân nào. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền tài sản phải lập thành văn bản, ghi danh tính các bên, căn cứ chuyển nhượng, phạm vi đối tượng chuyển quyền sử dụng, chuyển nhượng quyền tài sản, thời gian, giá cả, phương thức thanh toán, quyền và nghĩa vụ của các bên, trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng và phụ lục hợp đồng nếu có.

3. Đăng kí quyền tác giả, quyền liên quan

Đăng kí quyền tác giả là việc tổ chức, cá nhân có quyền nộp đơn theo quy định pháp luật cho cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận đăng kí quyền tác giả, giấy chứng nhận đăng kí quyền liên quan. Giấy chứng nhận quyền tác giả, giấy chứng nhận quyền liên quan do cơ quan nhà nước cấp, ghi nhận các thông tin về tác giả và tác phẩm, về người biểu diễn và cuộc biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và bản ghi âm, tổ chức phát sóng và chương trình phát sóng cùng các thông tin về chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan do các chủ thể quyền khai nhận theo các thủ tục quy định. Tuy nhiên, đây không phải là thủ tục bắt buộc để được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan. Những tổ chức, cá nhân được cấp giấy chứng nhận đăng kí quyền tác giả, giấy chứng nhận quyền liên quan sẽ không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan thuộc mình khi có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại.

Đơn đăng kí quyền tác giả, đơn đăng kí quyền liên quan gồm tờ khai đăng kí, bản sao bản định hình đối với đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan đăng kí, văn bản đồng ý của đồng chủ sở hữu, đồng tác giả trong trường hợp đồng tác giả, đồng chủ sở hữu và giấy tờ tùy thân. Trường hợp tác giả, chủ sở hữu ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác nộp đơn đăng kí thì phải có giấy ủy quyền hợp pháp.

Cục Bản quyền tác giả là cơ quan của Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch có thẩm quyền cấp, cấp lại, đổi, hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng kí quyền tác giả, giấy chứng nhận đăng kí quyền liên quan.

Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cục Bản quyền tác giả phải cấp giấy chứng nhận đăng kí quyền tác giả, giấy chứng nhận đăng kí quyền liên quan cho tổ chức, cá nhân nộp đơn đăng kí. Trường hợp từ chối cấp giấy chứng nhận đăng kí quyền tác giả, giấy chứng nhận đăng kí quyền liên quan, Cục Bản quyền tác giả phải thông báo bằng văn bản cho tổ chức, cá nhân nộp đơn.

Giấy chứng nhận đăng kí quyền tác giả, giấy chứng nhận đăng kí quyền liên quan có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Giấy chứng nhận đăng kí quyền tác giả, giấy chứng nhận đăng kí quyền liên quan được ghi trong Sổ đăng kí quốc gia, đăng trên Công báo về quyền tác giả, quyền liên quan và truyền phát trên website Quyền tác giả Việt Nam với tên miền www.cov.gov.vn.

 TS. Vũ Mạnh Chu

 


 

  Bài 5: QUẢN LÍ TẬP THỂ

       Kinh nghiệm của các quốc gia khẳng định rằng tổ chức quản lí tập thể quyền tác giả, quyền liên quan có vị trí quan trọng trong hệ thống thực thi và có vai trò đặc biệt trong hoạt động tự bảo vệ quyền lợi của các chủ thể quyền. Nó là tổ chức phi chính phủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội viên, hoạt động không vì mục đích sinh lợi. Thông qua hợp đồng ủy thác của những người có quyền, tổ chức quản lí tập thể quyền tác giả, quyền liên quan thực hiện hoạt động cấp giấy phép sử dụng, khai thác tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm chương trình phát sóng, thu tiền sử dụng và phân phối cho những người có quyền lợi theo quy định của pháp luật và điều lệ của tổ chức. Với hoạt động đó, tổ chức quản lí tập thể quyền tác giả, quyền liên quan là cầu nối giữa các nhà sáng tạo là hội viên với các tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm; tạo thuận lợi cho việc sử dụng, khai thác có hiệu quả các quyền của hội viên.

Theo tổng kết của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới, hiện có một số mô hình tổ chức quản lí tập thể tại các quốc gia. Mô hình các tổ chức quản lí tập thể “truyền thống”, hoạt động theo nguyên tắc thay mặt các thành viên đã ủy thác quyền thực hiện đàm phán, thỏa thuận về điều kiện sử dụng và cấp phép sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, chương trình phát sóng; thu tiền sử dụng và phân phối lại cho các thành viên. Theo mô hình này, các thành viên không trực tiếp tham gia vào quá trình đám phán, thu và phân phối tiền sử dụng nhưng được hưởng lợi từ việc phân phối lại của tổ chức quản lí tập thể. Mô hình tổ chức quản lí tập thể là trung tâm cấp phép sử dụng. Theo mô hình này, việc đàm phán cấp phép phải tuân thủ theo điều kiện do hội viên quy định, kể cả mức tiền sử dụng. Khác với mô hình truyền thống, hội viên thuộc mô hình này vẫn tham gia vào việc đưa ra các điều kiện sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, chương trình phát sóng của mình trong quá trình đàm phán. Tổ chức đại diện tập thể loại này đóng vai trò đại lí cho các chủ sở hữu là hội viên. Mô hình tổ chức quản lí tập thể “một cửa” là một loại liên hiệp các tổ chức quản lí tập thể riêng rẽ. Mô hình này tập trung việc cấp phép sử dụng từ các nguồn dữ liệu về tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, chương trình phát sóng của các tổ chức quản lí tập thể khác nhau. Nó tỏ ra ưu việt hơn, vì hoạt động cấp phép tập trung vào một đầu mối, công việc sẽ thuận lợi, nhanh chóng và dễ dàng cho bên sử dụng. Mặt khác, nó còn đáp ứng yêu cầu mới về việc ngày càng có nhiều sản phẩm đa phương tiện được sáng tạo, bao gồm những sản phẩm có hoặc do nhiều tác phẩm tạo thành. Khuynh hướng lập ra các tổ chức quản lí tập thể theo mô hình này hiện đang phát triển tại các quốc gia.

Việc thu và phân phối tiền sử dụng đều được thực hiện theo nguyên tắc công khai, minh bạch tại các tổ chức quản lí tập thể thuộc mọi quốc gia trên thế giới. Các tổ chức quản lí tập thể được sử dụng một khoản tiền tính bằng tỉ lệ phần trăm (%) trên tổng số tiền thu được từ việc sử dụng, để chi phí hành chính cho bộ máy văn phòng. Tỉ lệ này do những người ủy thác quyền quyết định. Nó sẽ được giảm dần để phân phối lại cho người ủy thác, khi số tiền tuyệt đối thu được từ việc sử dụng tăng lên.

 SACD là tổ chức quản lí tập thể quyền tác giả đầu tiên được ra đời vào năm 1777 tại Pháp, sau các “trận chiến pháp lí” chống lại các nhà hát. Hơn 50 năm sau, các nhà văn trong đó có Honoro De Balzac, Alexandre Dumas, Victor Hugo cũng làm những việc tương tự và đi đến thành lập SGDL vào năm 1837. Tuy nhiên chỉ đến khi một vụ kiện của các nhà soạn nhạc và một số nhà văn vào năm 1847, về việc hoà nhạc tại quán cà phê ở Paris không trả tiền sử dụng, trong khi vẫn thu tiền bán cà phê, đó là một sự bất hợp lí rõ ràng. Họ đưa ra quyết định không trả tiền cà phê khi không được thanh toán tiền sử dụng âm nhạc. Kết quả, các nhạc sĩ và nhà văn đã thắng lợi. Từ đó, người ta nhận thức ra rằng, bản thân các cá nhân không thể kiểm soát được các quyền của mình. Vì vậy, đã dẫn đến việc ra đời tổ chức tập thể và hoàn thiện hơn vào năm 1850 với tên gọi là SACEM. Đến cuối thế kỷ XIX và những thập niên đầu thế kỷ XX, các tổ chức tương tự được ra đời như CISAC, IFRRO, FICM, FIA, AIDAA, v.v... Tại các quốc gia cũng hình thành các tổ chức quản lí tập thể có lịch sử lâu đời và tên tuổi như GEMA của Đức, ASCAP của Mỹ, PRS của Anh, SUSA của Thuỵ Sỹ, v.v....

 Tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm quốc tế, với cơ sở pháp lí là hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền tác giả, quyền liên quan từng bước được hoàn thiện; Việt Nam từng bước tham gia các công ước quốc tế; nhu cầu về việc tổ chức ra đời để hoạt động quản lí tập thể đã trở nên bức thiết, đặc biệt đối với lĩnh vực âm nhạc. Vì vậy, với sự đỡ đầu của Bộ Văn hóa – Thông tin nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các công việc liên quan đến chuẩn bị các văn kiện thành lập hoạt động đã được xúc tiến. Cơ sở pháp lí cho việc ra đời tổ chức phi Chính phủ đã được quy định tại Sắc lệnh số 102/SL-R400, ngày 20 tháng 5 năm 1957 và Nghị định số 88/2003 NĐ-CP, ngày 30 tháng 7 năm 2003, sau này có quy định tại Điều 56 Luật Sở hữu trí tuệ, Điều 41 Nghị định 100/2006 NĐ-CP, ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ.

 Từ các cơ sở pháp lí trên, Việt Nam đã lần lượt cho ra đời ba tổ chức quản lí tập thể quyền tác giả, quyền liên quan để giải quyết các bức xúc về việc tự quản lí quyền cá nhân. Hệ thống thực thi mới, với mô hình quản lí tập thể lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam được đánh dấu ở sự xuất hiện của VCPMC vào ngày 19-4-2002, sau nhiều nỗ lực vận động thành lập và sau đó là sự ra đời của RIAV ngày 16-6-2003, của VLCC ngày 25-8-2004. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đóng vai trò “bà đỡ” cho sự ra đời, đồng thời thực hiện chức năng quản lí và hỗ trợ hoạt động của hệ thống này. Là lĩnh vực hoạt động chưa có tiền lệ, vì vậy các tổ chức quản lí tập thể trên phải đối mặt với biết bao thách thức, từ nhận thức chung của xã hội đến hiểu biết và việc thực hiện nghĩa vụ pháp lí khi sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, chương trình phát sóng thuộc quyền tác giả, quyền liên quan. Đồng thời các tổ chức này cũng tiếp nhận được kinh nghiệm quốc tế quan trọng. Cơ hội bỏ qua các bước mò mẫm để tiếp cận trực tiếp với cách thức quản trị đã trở thành kinh nghiệm quý rút ra từ lịch sử, đã được các tổ chức quản lí tập thể Việt Nam đón nhận. Theo xu hướng này, Việt Nam phải xây dựng một đội ngũ chuyên trách, hoạt động chuyên nghiệp để thực hiện các công việc xây dựng và quản lí kho dữ liệu, đàm phán cấp phép sử dụng, phân phối tiền cho người ủy thác. Hiện các tổ chức quản lí tập thể đang từng bước phát huy và khẳng định vai trò không thể thiếu của mình đối với các chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan..

 TS. Vũ Mạnh Chu

 


 

Bài 6: CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

Công ước Berne

Lịch sử hình thành và phát triển:

Hệ thống luật án lệ và hệ thống luật thành văn là hai triết lí phát sinh sự khác nhau, đang tồn tại trong hệ thống các luật quyền tác giả. Sự khác nhau này đều đã thể hiện tại các điều ước quốc tế song phương. Theo thời gian, nhiều điều ước quốc tế song phương đã được kí kết, đặc biệt là sự gia tăng vào nửa cuối thế kỷ XIX. Từ đó, ý tưởng về một điều ước quốc tế đã ra đời. Việc chuẩn bị một văn kiện pháp lí chứa đựng các quy tắc ứng xử chung, tạo ra nền tảng pháp lí thống nhất tới mức có thể là vấn đề rất phức tạp. Công việc này đã khởi động trước khi thông qua nghị quyết Hội nghị của Hiệp hội Văn học và Nghệ thuật quốc tế (ALAI) năm 1886. Theo yêu cầu của ALAI, ba hội nghị ngoại giao liên tiếp được tổ chức tại Bern vào các năm 1884, 1885 và 1886 do Liên bang Thụy Sỹ triệu tập để xem xét dự thảo Công ước. Tại cuộc họp lần thứ ba năm 1886, Công ước Berne bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật đã được thông qua. Nguyên tắc đối xử quốc gia và yêu cầu bảo hộ tối thiểu là tư tưởng quán xuyến toàn bộ nội dung của Công ước này.

Công ước Berne ra đời cách đây 122 năm, văn bản ngày 24-7-1971 tại Paris, sửa đổi ngày 28-9-1979 là văn bản đang được thi hành tại 164 quốc gia thành viên. Như vậy, sức sống của nó hiện đã nằm trong 3 thế kỷ, trong đó trên một thập niên thuộc thế kỷ XIX, trọn thế kỷ XX và đang ở thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI. Sở dĩ trường tồn như vậy, vì từ khi ra đời đến nay đã trải qua 8 lần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thời đại. Trong đó lần sửa đổi đầu tiên tại Paris năm 1896, tiếp đó tại Berlin năm 1908, tại Bern năm 1914, tại Rome năm 1928, tại Brussels năm 1948, tại Stockholm năm 1967, tại Paris năm 1971 và bổ sung năm 1979. Việc sửa đổi, bổ sung Công ước xuất phát từ sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, như việc phát minh ra máy ghi âm, máy ảnh, radio, điện ảnh, phát thanh truyền hình, v.v... đồng thời là nhu cầu nội tại của việc công nhận quyền tinh thần, huỷ bỏ thủ tục hình thức, bảo hộ sự sáng tạo dân gian, tiếp cận tác phẩm cho việc giáo dục, nghiên cứu khoa học, v.v... Các điều luật được điều chỉnh đã chi tiết hơn về quyền được bảo hộ, ngoại lệ và giới hạn, thời hạn bảo hộ tối thiểu, chủ sở hữu nguyên thuỷ, v.v... Sau nhiều lần sửa đổi, Công ước Berne đã đưa ra các quy định đạt mức hài hoà cao dựa trên nguyên tắc đối xử quốc gia kết hợp với những quy định về mức độ bảo hộ tối thiểu.

Ba nguyên tắc điều chỉnh lợi ích của các quốc gia thành viên:

 Nguyên tắc đối xử quốc gia, là nguyên tắc đặt ra cho các quốc gia thành viên thực hiện bảo hộ tác phẩm có nguồn gốc từ các quốc gia thành viên khác, tương tự như sự bảo hộ tác phẩm của công dân quốc gia mình. Sự bảo hộ đó không kém thuận lợi, không thấp hơn sự bảo hộ đối với công dân thuộc quốc gia mình. Nguyên tắc này đặt ra sự bình đẳng trong đối xử với công dân và pháp nhân của các quốc gia thành viên.

 Tiếp theo là nguyên tắc bảo hộ đương nhiên, là sự bảo hộ không lệ thuộc vào bất kì thủ tục hình thức nào, như là thủ tục đăng kí cấp giấy chứng nhận, việc nộp lưu chiểu, hoặc các thủ tục tương tự khác.

Nguyên tắc cuối cùng là nguyên tắc độc lập bảo hộ. Nguyên tắc này nêu yêu cầu cho các quốc gia thành viên việc bảo hộ để công dân và các pháp nhân được hưởng và thực thi các quyền được cấp theo Công ước là độc lập với những gì được hưởng tại nước xuất xứ của tác phẩm.

 Ba nguyên tắc này phải được thực hiện tại tất cả các quốc gia thành viên, nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng cho công dân và pháp nhân có tác phẩm được bảo hộ. Đó cũng là sự bình đẳng về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các nước thành viên Công ước.

 Tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu tại các quốc gia thành viên

 Bảo hộ tối thiểu là chuẩn mực chung, áp dụng tại mọi quốc gia thành viên, được thể hiện tại các quy định của Công ước, đặc biệt là quy định về các quyền của tác giả và thời hạn bảo hộ.

 Đối với tác phẩm, Công ước dành sự bảo hộ cho tất cả các ý tưởng về sản phẩm trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học được định hình dưới dạng vật chất nhất định đã hoặc sẽ có trong tương lai, không phân biệt hình thức và cách thức thể hiện, không lệ thuộc bởi bất kì thủ tục hình thức nào như là việc đăng kí, nộp lưu chiểu. Quy định này bắt nguồn từ triết lí “quyền tự động phát sinh”, nguyên tắc bảo hộ đương nhiên. Các liệt kê tại Điều 2 Công ước bao gồm nhiều loại hình tác phẩm cụ thể được bảo hộ. Theo yêu cầu mới của việc bảo hộ từ các nước đang phát triển, loại hình văn học, nghệ thuật dân gian đã được bổ sung tại Hội nghị Stockholm năm 1967. Với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, Hiệp định Trips về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền Sở hữu trí tuệ năm 1994 đã bổ sung chương trình máy tính và sưu tập dữ liệu vào loại hình tác phẩm được bảo hộ (Điều 10); việc loại trừ các loại hình không được bảo hộ cũng được quy định cụ thể để các quốc gia thành viên áp dụng. Như vậy, cùng với sự phát triển của nhân loại, tác phẩm được bảo hộ luôn được bổ sung để có thể thực hiện bảo hộ trên toàn cầu các sáng tạo văn học, nghệ thuật và khoa học.

 Về quyền được bảo hộ, Công ước quy định các quyền độc quyền của tác giả bao gồm quyền sao chép, quyền phân phối, quyền dịch, quyền phóng tác, quyền biểu diễn công cộng, quyền kể lại trước công chúng, quyền phát sóng, quyền truyền thông tới công chúng, quyền bán lại tác phẩm nghệ thuật gốc. Khi xuất hiện các hiệp ước về Internet (WCT, WPPT), khái niệm sao chép kĩ thuật số, các quyền truyền kĩ thuật số, biện pháp công nghệ và thông tin quản lí quyền ra đời để có thể bảo vệ được quyền tác giả trong thời đại kĩ thuật số. Các quyền độc quyền trên là quyền kinh tế của tác giả, do tác giả trực tiếp thực hiện hoặc cho phép các tổ chức, cá nhân khác thực hiện. Việc khai thác các quyền này sẽ mang lại lợi ích kinh tế cho tác giả để tái đầu tư cho sáng tạo mới. Nguồn lợi thu được từ các tác phẩm là động lực thúc đẩy lao động sáng tạo của các tổ chức và cá nhân, để có nhiều giá trị văn học, nghệ thuật và khoa học đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của xã hội loài người. Đồng thời với quyền độc quyền, Công ước còn đưa ra quy định về giới hạn và ngoại lệ. Tuy nhiên nó phải đáp ứng điều kiện ba bước thử. Có nghĩa các giới hạn và ngoại lệ chỉ mở rộng tới các trường hợp đặc biệt, không ảnh hưởng tới việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây thiệt thòi về quyền lợi hợp pháp của tác giả. Các quyền tinh thần được đề cập trong Công ước là các quyền đứng tên tác giả trên tác phẩm, phản đối bất kì sự cắt xén, bóp méo, sửa đổi hoặc bất kì hành vi xúc phạm khác liên quan tới tác phẩm, có thể làm phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Thời hạn bảo hộ cũng là vấn đề thuộc yêu cầu bảo hộ tối thiểu đã được quy định tại Công ước Berne. Có hai nguyên tắc tính thời hạn bảo hộ được áp dụng. Nguyên tắc tính thời hạn bảo hộ theo đời người, được quy định là khoảng thời gian suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả qua đời. Nguyên tắc tính thời hạn bảo hộ dựa vào thời điểm công bố được quy định là khoảng thời gian 50 năm đối với tác phẩm điện ảnh hoặc thời điểm tác phẩm được sáng tạo, nếu chưa công bố. Đối với tác phẩm nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, thời hạn bảo hộ tối thiểu là 20 năm kể từ khi tác phẩm được sáng tạo. Quy định này là yêu cầu bảo hộ tối thiểu, tuỳ theo từng quốc gia thành viên có thể quy định thời hạn bảo hộ dài hơn như Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, các nước châu Âu, Nhật Bản, Singapore, v.v...

 Ưu đãi dành cho quốc gia thành viên là những nước đang phát triển:

 Những điều khoản đặc biệt dành cho các quốc gia đang phát triển được quy định tại phụ lục Công ước Berne về ưu đãi, miễn trừ. Lợi ích này là thoả thuận của các nước phát triển, để các quốc gia đang phát triển có thể tiếp cận việc dịch và xuất bản (làm các bản sao) đối với một số loại hình tác phẩm. Giấy phép không độc quyền và bất khả nhượng sẽ do cơ quan có thẩm quyền cấp với thời hạn thông thường là 5 năm tính từ lần xuất bản đầu tiên tác phẩm; là 3 năm đối với tác phẩm khoa học tự nhiên, kể cả toán học và công nghệ; là 7 năm đối với tác phẩm khoa học và viễn tưởng, thơ ca, kịch, âm nhạc và tác phẩm nghệ thuật. Đây là lợi ích được ưu đãi, nhưng nhiều vấn đề liên quan đến điều kiện sử dụng, thủ tục và quy trình bắt buộc cũng như hình thành trung tâm thông tin quốc gia để quản lí vấn đề này phải được thực hiện nghiêm túc tại các quốc gia đang phát triển có nhu cầu hưởng ưu đãi.

 Công ước Berne là công ước quốc tế về bản quyền lâu đời nhất. Nó tạo nên yếu tố nền tảng và tương tác với các công ước và hiệp ước khác đặc biệt là Hiệp định Trips, Công ước quyền tác giả toàn cầu (UCC), các Hiệp ước về Internet (WCT, WPPT). Vì vậy, việc tiếp cận với Công ước Berne và các công ước, hiệp ước quốc tế khác về bản quyền để có nhận thức đúng, hiểu biết đầy đủ, làm cơ sở cho hoạt động thực thi, khai thác các lợi ích bản quyền trên phạm vi toàn cầu là yêu cầu tất yếu của quá trình hội nhập. Việt Nam có tìm thấy lợi ích hài hòa đặt ra tại Công ước Berne và các công ước, hiệp ước quốc tế khác về quyền tác giả và quyền liên quan trong quá trình thực thi, hội nhập hay không, điều đó tuỳ thuộc nhiều ở sự nỗ lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức phi chính phủ liên quan, đặc biệt là các tổ chức và cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm.

Đến 15-7-2009 có 164 nước là thành viên của Công ước.

Công ước Brussels

Công ước liên quan đến việc phát các tín hiệu mang chương trình truyền hình qua vệ tinh được làm tại Brussels ngày 21-5-1974, vì vậy còn được gọi là Công ước Brussels. Công ước để mở cho bất kì quốc gia nào là thành viên của Liên hợp quốc, hoặc là thành viên của bất kì tổ chức nào thuộc hệ thống các tổ chức của Liên hợp quốc. Văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc gia nhập phải được gửi tới Tổng thư ký Liên hợp quốc. Ngoài phần mở đầu, Công ước Brussels có 12 điều, Công ước quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên phải thực hiện các biện pháp thích đáng, để ngăn chặn việc phân phối không được phép trên lãnh thổ của nước mình các tín hiệu mang chương trình được truyền qua vệ tinh. Việc phân phối sẽ là bất hợp pháp khi không được tổ chức phát sóng giữ vai trò quyết định chương trình phát sóng cấp phép. Nghĩa vụ xin phép là bắt buộc của tổ chức mang quốc tịch của các quốc gia thành viên. Tuy nhiên, các quy định của Công ước không áp dụng đối với việc phân phối các tín hiệu được thực hiện từ vệ tinh phát sóng trực tiếp.

Công ước Brussel không có quy định việc lập Liên hiệp, tổ chức quản lí và ngân sách. Tính đến ngày 15-7-2009, Công ước có 33 quốc gia thành viên. Công ước Brussels có hiệu lực tại Việt Nam ngày 12-01-2006.

Công ước Geneva

Công ước bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm, chống lại việc sao chép không được phép các bản ghi âm của họ, Công ước được làm tại Geneva ngày 29-10-1971, vì vậy còn được gọi là Công ước Geneva. Công ước để mở cho bất kì quốc gia thành viên nào của Liên hợp quốc, hoặc thành viên của bất kì tổ chức nào thuộc hệ thống các tổ chức của Liên hợp quốc. Văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc gia nhập phải được gửi tới Tổng thư ký Liên hợp quốc. Ngoài phần mở đầu, Công ước có 14 điều quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên, về việc bảo hộ các nhà sản xuất bản ghi âm mang quốc tịch của các quốc gia thành viên khác, chống lại việc làm bản sao và việc nhập khẩu các bản sao nhằm mục đích phân phối công cộng, việc phân phối các bản sao tới công chúng không được sự đồng ý của nhà sản xuất. Thuật ngữ “Bản ghi âm” được hiểu theo nghĩa là bản định hình (ghi) dành riêng cho cơ quan thính giác, không phụ thuộc vào hình thức của chúng. Việc bảo hộ có thể được quy định thành đối tượng điều chỉnh của Luật Quyền tác giả, quyền liên quan, Luật Cạnh tranh không lành mạnh và Luật Hình sự. Thời hạn bảo hộ kéo dài ít nhất 20 năm, kể từ khi định hình hoặc công bố lần đầu tiên bản ghi âm.

 Văn phòng quốc tế của Wipo được giao nhiệm vụ thực hiện chức năng thư ký của Công ước. Công ước không có quy định việc lập Liên hiệp, cơ quan điều hành và ngân sách. Đến ngày 15-7-2009, Công ước có 77 quốc gia thành viên. Công ước Geneva có hiệu lực tại Việt Nam ngày 6-7-2005.

Công ước Rome

 Công ước bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng được kí kết ngày 26-10-1961 tại Rome, vì vậy còn được gọi là Công ước Rome. Công ước để mở cho tất cả quốc gia thành viên của Công ước Berne hoặc Công ước quyền tác giả toàn cầu (UCC). Văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc gia nhập phải được gửi tới Tổng thư ký Liên hợp quốc. Các nước tham gia có thể đưa ra bảo lưu về việc áp dụng một số quy định cụ thể tại Công ước. Công ước gồm 34 điều với các quy định bảo đảm sự bảo hộ tại các quốc gia thành viên, đối với các cuộc biểu diễn của người biểu diễn, các bản ghi âm của các nhà sản xuất bản ghi âm các các chương trình phát sóng của các tổ chức phát sóng.

 Người biểu diễn là các diễn viên, ca sĩ, vũ công, nhạc công, và những người khác biểu diễn các tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật được bảo hộ, chống lại các hành vi cụ thể không được sự đồng ý của họ. Các hành vi này gồm: phát sóng và truyền đạt tới công chúng cuộc biểu diễn trực tiếp của họ; định hình các cuộc biểu diễn trực tiếp của họ; sao chép các bản định hình, hoặc nếu việc sao chép này được thực hiện nhằm các mục đích khác với các mục đích mà họ đã đồng ý.

Nhà sản xuất bản ghi âm được hưởng quyền cho phép hoặc ngăn cấm việc sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm của họ. Theo Công ước Rome bản ghi âm là bất kì sự định hình các âm thanh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh khác dành riêng cho cơ quan thính giác. Khi các bản ghi âm được công bố nhằm mục đích thương mại thì việc sử dụng (như là phát sóng hoặc truyền đạt tới công chúng bằng bất kì hình thức nào, tại nhà hàng, khách sạn, v.v…), phải trả thù lao tương xứng cho những người biểu diễn, hoặc cho những nhà sản xuất bản ghi âm.

Tổ chức phát sóng được hưởng quyền cho phép hoặc ngăn cấm việc tái phát sóng chương trình phát sóng của họ; định hình chương trình phát sóng và sao chép các bản định hình này; truyền đạt đến công chúng các buổi phát sóng truyền hình nếu việc truyền đạt này được thực hiện tại nơi để mở cho công chúng tham dự bằng việc thanh toán phí vào cửa. Công ước Rome cho phép những ngoại lệ trong luật pháp quốc gia đối với các quyền nêu trên như là sử dụng cá nhân, sử dụng các trích đoạn ngắn trong việc đưa tin thời sự, định hình tạm thời bằng phương tiện của các tổ chức phát sóng và phục vụ cho việc phát sóng của chính tổ chức phát sóng, sử dụng chỉ nhằm mục đích giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học.

 Thời hạn bảo hộ phải kéo dài ít nhất cho đến khi kết thúc thời hạn 20 năm, tính từ khi kết thúc năm bản ghi âm, cuộc biểu diễn được định hình (trường hợp cuộc biểu diễn không được định hình thì tính từ khi nó được tiến hành), chương trình phát sóng được thực hiện.

Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học của Liên hợp quốc (UNESCO) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là các tổ chức đồng quản lí Công ước. Các tổ chức đồng quản lí chỉ định Ban thư ký. Một ủy ban liên Chính phủ được thành lập gồm đại diện của 12 quốc gia kí kết, có nhiệm vụ xem xét và giải quyết các vấn đề liên quan đến Công ước.

 Công ước Rome không quy định về việc tạo ra một Liên hiệp và tài chính riêng. Đến ngày 15-7-2009 Công ước Rome có 88 quốc gia thành viên. Công ước Rome có hiệu lực tại Việt Nam ngày 1-3-2007.

Công ước quyền tác giả toàn cầu

 Công ước quyền tác giả toàn cầu (UCC) bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, do Tổ chức các nước châu Mỹ quản lí, được thông qua tại Geneva, Thụy Sỹ ngày 6-9-1952 và sửa đổi ngày 24-7-1971 tại Paris Cộng hòa Pháp. Công ước UCC gồm có 21 điều, phần phụ lục, nghị quyết và biên bản, để mở cho bất kì quốc gia nào đệ đơn gia nhập. Văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc gia nhập phải được gửi tới Tổng Thư kí Liên hợp quốc. Công ước quy định các quốc gia thành viên có quy định bảo hộ quyền tác giả phải coi điều kiện được đáp ứng khi trên các bản sao của tác phẩm được công bố lần đầu tiên có dấu hiệu chữ “C” bên trong vòng tròn (#).

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả không ngắn hơn cuộc đời tác giả và 25 năm sau khi tác giả chết. Thuật ngữ “công bố” có nghĩa là việc làm ra các bản sao từ bản gốc tác phẩm và đưa các bản sao đó đến công chúng, với điều kiện bản sao đó phải đọc được hoặc cảm nhận được. Công bố đồng thời ở hai hay nhiều nước là việc công bố trong vòng 30 ngày kể từ ngày công bố đầu tiên tại quốc gia.

Công ước UCC đặc biệt quy định về quyền dịch, các hạn chế và ngoại lệ đối với quyền này. Thời hạn xin cấp giấy phép dịch thuật cưỡng bức đối với tác phẩm đã công bố là 7 năm, với điều kiện là người nắm giữ quyền dịch thuật không công bố bản dịch của mình bằng ngôn ngữ phổ thông tại nước có liên quan. Thời hạn này có thể giảm xuống còn 3 hoặc 1 năm, tùy thuộc vào các trường hợp cụ thể.

Công ước có quy định lập ủy ban liên Chính phủ đóng vai trò quản lí và điều hành Công ước. Đến ngày 15-7-2009 Công ước UCC có 100 quốc gia thành viên. Tại thời điểm này Việt Nam chưa nộp đơn tham gia Công ước UCC.

Hiệp định TRIPS

Hiệp định Trips về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ là kết quả của việc kí kết các thỏa thuận theo Vòng đàm phán Uruguay, trong khuôn khổ Thỏa thuận chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) ngày 15-12-1993. Trips là một hiệp định đa phương, nằm trong hệ thống các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới. Hiệp định Trips ngoài phần mở đầu gồm 7 phần với 73 điều, nó là một hiệp định tổng thể nhất về sở hữu trí tuệ, bao hàm các chế độ đặc biệt về sở hữu trí tuệ mà một phần nội dung của nó dựa vào các quy định thực chất của các công ước do Wipo quản lí, chủ yếu là Công ước Berne, Công ước Paris, Công ước Rome và Hiệp ước Washington về thiết kế bố trí mạng tích hợp. Việc gia nhập WTO đồng nghĩa với việc bị ràng buộc bởi nghĩa vụ thi hành Trips. Theo Hiệp định, các quốc gia thành viên có thể, nhưng không bị bắt buộc áp dụng trong pháp luật quốc gia mức bảo hộ cao hơn so với các yêu cầu của Hiệp định, miễn là việc bảo hộ đó không trái với các điều khoản của Hiệp định. Hiệp định bao gồm các vấn đề chính sau: các tiêu chuẩn về nội dung các quyền; các nguyên tắc cơ bản; thực thi; ngăn ngừa và giải quyết tranh chấp; các thỏa thuận chuyển tiếp; các thỏa thuận thể chế. Đối tượng điều chỉnh của Hiệp định này gồm: quyền tác giả và quyền liên quan, sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lí, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bảo hộ thông tin bí mật và kiểm soát các hoạt động chống cạnh tranh không lành mạnh. Sự bảo hộ này dành cho công dân của các quốc gia thành viên khác. Nguyên tắc cơ bản của Hiệp định là đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia. Về thực thi, Hiệp định Trips bao hàm các nghĩa vụ chung và các nghĩa vụ cụ thể, nhằm mục đích đảm bảo cho các quy định về bảo hộ được thực thi hoàn hảo thông qua các quy định hết sức chi tiết. Các nghĩa vụ chung liên quan đến thực thi là các thủ tục. Thủ tục phải được quy định trong pháp luật quốc gia, với các biện pháp thực thi hiệu quả, nhanh chóng, công bằng, hợp lí, không quá phức tạp, chi phí không quá cao, không gây chậm trễ bất hợp lí và đủ mạnh để ngăn chặn vi phạm các quyền theo Hiệp định và ngăn ngừa các vi phạm tiếp theo. Đồng thời phải không được cản trở thương mại hợp pháp và phải có những biện pháp đảm bảo chống lạm dụng các thủ tục này. Các nghĩa vụ cụ thể gồm các quy định về cung cấp chứng cứ, lệnh của cơ quan xét xử nhằm ngăn chặn việc đưa vào các kênh thương mại hàng hóa nhập khẩu vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, bồi thường thiệt hại, quyền thông tin và quyền bảo đảm dành cho bị đơn chống lại việc lạm dụng các thủ tục. Hiệp định còn bao gồm các biện pháp khẩn cấp tạm thời dành cho các cơ quan có thẩm quyền, để có thể lập tức chặn đứng vi phạm, ngăn cản hàng hóa vi phạm tham gia vào các kênh thương mại, bảo vệ chứng cứ. Hiệp định còn đưa ra yêu cầu về các biện pháp tại biên giới dành cho các cơ quan hải quan quyền đình chỉ thông quan hàng hóa hoặc vi phạm quyền tác giả quyền liên quan ở quy mô thương mại. Về ngăn ngừa và giải quyết tranh chấp, Hiệp định có các điều khoản ngăn ngừa tranh chấp trong đó quy định tất cả các luật và văn bản pháp quy, các quyết định xét xử trung thẩm và các văn bản quản lí phải được nộp tới Hội đồng Trips, và việc các thành viên WTO cung cấp thông tin cho nhau theo yêu cầu về các tình huống áp dụng hiệp định. Hiệp định quy định việc giải quyết tranh chấp được áp dụng theo các quy định chung của GATT, về giải quyết tranh chấp trong bản thỏa thuận về quy tắc và thủ tục điều chỉnh giải quyết tranh chấp năm 1994. Cơ quan giải quyết tranh chấp (gọi là DSB), được lập ra theo Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới là cơ quan có thẩm quyền áp dụng bản thỏa thuận này để giải quyết tranh chấp. Về các thỏa thuận chuyển tiếp, Hiệp định cho phép các thành viên có một khoảng thời gian chuyển đổi thích hợp, nhằm đảm bảo việc thực thi đầy đủ các nghĩa vụ. Theo đó, thời hạn đối với các nước phát triển là 1 năm, các nước đang phát triển là 5 năm và các nước kém phát triển là 11 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực (01-01-1995). Hiệp định cũng còn có những điều khoản hỗ trợ kĩ thuật và tài chính, ưu tiên dành cho các nước đang phát triển và kém phát triển. Về thể chế, Hiệp định có các điều khoản về việc thành lập cơ quan quản lí là Hội đồng của Hiệp định gọi là Hội đồng Trips. Hội đồng kiểm soát các hoạt động của Trips, đặc biệt là việc tuân thủ các nghĩa vụ. Ngoài ra, Hội đồng Trips còn có nhiệm vụ lập ra các thỏa thuận tương ứng về hợp tác với các cơ quan của Wipo, tổ chức các Hội nghị đánh giá việc thực hiện các nghĩa vụ theo Hiệp định của các quốc gia thành viên. Hiệp định Trips có hiệu lực tại Việt Nam vào thời điểm Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới ngày 7 tháng 11 năm 2006.

 

Hiệp ước WCT

 

Hiệp ước quyền tác giả của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WCT), được ký kết tại Geneva ngày 20/12/1996. Nó mở rộng việc phê chuẩn, chấp thuận gia nhập cho các quốc gia thành viên của Wipo và Cộng đồng Châu Âu (EC). Hiệp ước gồm có phần mở đầu và 25 điều. Trong các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả Hiệp ước đề cập tới: chương trình máy tính, không phân biệt cách thức và hình thức thể hiện chúng; và sưu tập dữ liệu dưới bất kì hình thức nào, với sự lựa chọn và sắp xếp nội dung tạo thành những sáng tạo trí tuệ. Về các quyền của tác giả, Hiệp ước đề cập đến 3 quyền: quyền phân phối; quyền cho thuê; quyền truyền thông công cộng. Trừ các hạn chế và ngoại lệ cụ thể, các quyền này là các quyền độc quyền. Quyền phân phối là quyền cho phép cung cấp bản gốc hoặc bản sao tác phẩm tới công chúng thông qua việc bán hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu khác; quyền cho thuê là quyền cho phép cho thuê thương mại các bản gốc và bản sao chương trình máy tính, tác phẩm điện ảnh. Quyền truyền đạt tới công chúng là quyền đưa tới công chúng thông qua phương thức truyền cáp hoặc truyền sóng, bao hàm cả việc tạo ra sự sẵn có tác phẩm để công chúng có thể truy cập tại bất kì địa điểm, thời gian do họ lựa chọn. Hiệp ước ràng buộc các quốc gia thành viên quy định quyền áp dụng biện pháp tự bảo vệ quyền, chống lại việc dỡ bỏ, phá hủy các biện pháp công nghệ, các thông tin quản lí quyền. Hiệp ước ràng buộc quốc gia thành viên về việc thông qua các biện pháp cần thiết, để bảo đảm áp dụng Hiệp ước, phù hợp với hệ thống pháp lí của quốc gia mình. Đặc biệt là, quốc gia thành viên bảo đảm các thủ tục cưỡng chế phải được đáp ứng các biện pháp thực thi mau lẹ, để ngăn chặn vi phạm và cản trở đối với những vi phạm tiếp theo. Hiệp ước có quy định lập Đại hội đồng của các quốc gia thành viên với nhiệm vụ chính là giải quyết các vấn đề liên quan đến việc duy trì và phát triển hiệp ước, và giao cho Văn phòng quốc tế của Wipo các nhiệm vụ quản lí liên quan đến Hiệp ước. Hiện nay, Hiệp ước có 70 nước thành viên. Tại thời điểm này Việt Nam chưa tham gia Hiệp ước WCT.

 

Hiệp ước của Wipo về biểu diễn và chương trình ghi âm (Hiệp ước WPPT, 1996)

 

Hiệp ước WPPT, được kí kết ngày 20-12-1996 tại trụ sở của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (Wipo), có hiệu lực từ 20-5-2002. Các văn kiện gia nhập phải được gửi tới Tổng Giám đốc của Wipo. Hiệp ước WPPT, gồm có phần mở đầu và 33 điều. Hiệp ước đề cập đến quyền của người biểu diễn gồm diễn viên, ca sĩ, nhạc công và nhà sản xuất bản ghi âm gồm tổ chức, cá nhân khởi xướng và thực hiện việc định hình các âm thanh. Các đối tượng này được bảo hộ trong Hiệp ước WPPT bởi vì hầu hết của người biểu diễn theo Hiệp ước đều là các quyền có liên quan đến việc định hình biểu diễn, kể cả khi chỉ là các biểu diễn âm nhạc thuần túy.

 

Người biểu diễn có 4 quyền kinh tế độc quyền, gồm quyền làm bản sao; quyền phân phối; quyền cho thuê; quyền cung ứng. Quyền làm bản sao là quyền cho phép sao chép trực tiếp hoặc sao chép gián tiếp bản ghi âm dưới bất kì phương thức hoặc hình thức nào. Quyền phân phối là quyền cho phép cung cấp cho công chúng bản gốc hoặc bản sao của bản ghi âm, thông qua việc bán hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu khác. Quyền cho thuê là quyền cho thuê thương mại công cộng bản gốc hoặc bản sao của bản ghi âm được xác định theo luật quốc gia. Quyền cung cấp là quyền cho phép phân phối công cộng, thông qua phương tiện phát sóng, truyền cáp hoặc theo cách thức mà công chúng có thể tiếp cận tại bất kì địa điểm, thời gian do họ lựa chọn. Quyền này bao hàm cả việc cung cấp qua mạng Internet. Hiệp ước còn quy định 3 quyền kinh tế độc quyền của người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn phi định hình sống, gồm: quyền phát sóng trừ trường hợp tái phát sóng; quyền truyền thông công cộng, trừ biểu diễn để phát sóng; quyền định hình. Hiệp ước còn quy định quyền tinh thần của người biểu diễn; quyền đòi được xác định là người biểu diễn và quyền phản đối bất kì sự cắt xén, bóp méo hoặc sửa đổi khác có thể phương hại tới uy tín của người biểu diễn.

 

Nhà sản xuất bản ghi âm, có 4 quyền kinh tế độc quyền, gồm: quyền làm bản sao; quyền phân phối; quyền cho thuê; quyền cung ứng. Quyền làm bản sao là quyền cho phép sao chép trực tiếp hoặc sao chép gián tiếp bản ghi âm dưới bất kì phương thức hoặc hình thức nào. Quyền phân phối là quyền cho phép cung cấp công cộng bản gốc hoặc bản sao của bản ghi âm, thông qua việc bán hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu khác. Quyền cho thuê là quyền cho thuê thương mại công cộng bản gốc hoặc bản sao bản ghi âm. Quyền cung cấp là quyền cho phép cung ứng công cộng bản ghi âm bằng phương tiện phát sóng truyền cáp hoặc theo cách thức mà công chúng có thể truy cập tại bất kì địa điểm, thời gian do họ lựa chọn. Quyền này bao hàm cả việc cung cấp qua mạng Internet. Hiệp ước đòi hỏi các nước thành viên áp dụng nguyên tắc “đãi ngộ công dân”. Hiệp ước còn quy định người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm, cùng được hưởng quyền nhận một khoản thù lao thỏa đáng từ việc sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm đã được sản xuất nhằm mục đích thương mại khi phát sóng hoặc truyền thông công cộng. Thời hạn bảo hộ ít nhất là 50 năm. Việc hưởng và thực thi các quyền không phải tuân theo bất kì một thể thức nào. Hiệp ước ràng buộc các quốc gia thành viên về việc quy định các biện pháp pháp lí thực thi chống lại việc phá hủy, dỡ bỏ hoặc sửa đổi thông tin quản lí quyền và các biện pháp công nghệ khác do người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm sử dụng để thực thi các quyền. Hiệp ước ràng buộc các quốc gia thành viên về việc thông qua các biện pháp cần thiết, để bảo đảm áp dụng Hiệp ước, phù hợp với hệ thống quản lí của quốc gia mình. Đặc biệt các quốc gia thành viên phải bảo đảm các thủ tục cưỡng chế theo luật pháp quốc gia, để cho phép hành động có hiệu quả chống lại mọi hành vi xâm phạm các quyền quy định trong Hiệp ước. Nó phải bao hàm các biện pháp thực thi mau lẹ để ngăn chặn vi phạm và các biện pháp thực thi tạo ra sự cản trở đối với những vi phạm tiếp theo. Hiệp ước có quy định lập ra Đại hội đồng của các quốc gia thành viên, với nhiệm vụ giải quyết các vấn đề liên quan đến việc duy trì và phát triển Hiệp ước, và giao cho Văn phòng quốc tế của Wipo nhiệm vụ quản lí liên quan đến Hiệp ước. Đến nay Hiệp ước có 68 nước thành viên. Tại thời điểm này Việt Nam chưa nộp đơn tham gia Hiệp ước WPPT.

 

CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG

 

Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về thiết lập quan hệ quyền tác giả (BCA)

 

Hiệp định ký kết ngày 26-6-1997, được Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phê duyệt ngày 26-12-1997, có hiệu lực từ ngày 23-12-1998 khi Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ chính thức trao đổi văn kiện thông báo về việc sẵn sàng đảm nhận các nghĩa vụ của Hiệp định. Ngoài phần mở đầu, Hiệp định có 5 chương với 12 điều, bao gồm cam kết bảo hộ các tác phẩm của nhau trên nguyên tắc đối xử quốc gia. Theo đó, tác phẩm bảo hộ gồm: các tác phẩm của các tác giả là công dân, người thường trú của hai nước, tác phẩm được công bố lần đầu tại lãnh thổ hai nước, kể cả các tác phẩm chưa thuộc về công cộng tại một trong các bên kí kết; tác phẩm được công bố trong vòng 1 năm kể từ ngày tác phẩm này được công bố tại một nước thành viên vào thời điểm Hiệp định có hiệu lực, thuộc sở hữu của công dân, người thường trú của hai nước hoặc pháp nhân, do công dân hoặc người thường trú của hai nước hoặc của pháp nhân do công dân hoặc người thường trú của hai nước kiểm soát hoặc sở hữu phần lớn cổ phần hoăc tài sản. Tất cả các loại hình tác phẩm và bản ghi âm có thể được bản hộ quyền tác giả, không phân biệt hình thức định hình và không phụ thuộc vào bất kì một thủ tục hình thức nào. Về các quyền được bảo hộ theo Hiệp định, bao gồm tối thiểu các quyền độc quyền sao chép, phân phối, trưng bày, phổ biến công cộng với những hạn chế và ngoại lệ theo tiêu chuẩn của Điều 9 (1) Công ước Berne. Về thực thi, Hiệp định quy định nghĩa vụ áp dụng các biện pháp thực thi tại biên giới, dân sự và hình sự bao gồm các hình phạt và ngăn chặn theo các chuẩn mực của Hiệp định Trips. Các nghĩa vụ này được thực hiện theo quy định luật pháp quốc gia.

 

Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Thụy Sỹ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

 

Hiệp định kí kết ngày 7-7-1999, có hiệu lực từ ngày 8-6-2000. Ngoài phần mở đầu, Hiệp định có 9 điều là các quy định mang tính nguyên tắc. Kèm theo Hiệp định có một phụ lục trong việc bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ giữa hai quốc gia danh mục các điều ước quốc tế Việt Nam cam kết tham gia, một phụ lục về chương trình hợp tác đặc biệt. Phía Việt Nam nhận được sự hỗ trợ kĩ thuật từ phía Liên bang Thụy Sỹ các đối tượng được bảo hộ theo Hiệp định này gồm quyền tác giả và quyền liên quan, kể cả chương trình máy tính và cơ sở dữ liệu; nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lí, bố trí mạch tích hợp, giống cây và thông tin không được công bố. Hiệp định được xây dựng trên cơ sở các chuẩn mực của Hiệp định Trips về mức độ bảo hộ, chế độ bảo hộ và ràng buộc các bên nghĩa vụ tham gia vào một số điều ước quốc tế.

 

Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kì (BTA)

 

Hiệp định thương mại giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kì, được đàm phán và kí kết ngày 13-7-2000 đã được quốc hội hai nước thông qua và có hiệu lực thi hành ngày 10-12-2001. Hiệp định điều chỉnh các quan hệ thương mại giữa hai nước, tại chương 2 có 18 điều cam kết về sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền tác giả và quyền liên quan. Theo Hiệp định này, Việt Nam phải thực thi đầy đủ các nghĩa vụ về quyền tác giả và các quyền liên quan trong thời hạn chuyển tiếp là 18 tháng, đồng thời thực hiện thời hạn bảo hộ đối với loại hình không tính theo nguyên tắc đời người là 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố. Trong thời hạn là 25 năm nếu tác phẩm chưa được công bố thì thời hạn bảo hộ là 100 năm, kể từ khi tác phẩm được định hình, Việt Nam cam kết tham gia Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật (1971) trong thời hạn 24 tháng, Công ước Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép trái phép, công ước về phân phối các tín hiệu mang chương trình truyền quan vệ tinh (Công ước Brussel, 1974) trong vòng 30 tháng, kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Phù hợp với hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kì, về thiết lập quan hệ quyền tác giả (BCA), Hiệp định Thương mại cam kết bảo hộ mọi tác phẩm có sự thể hiện nguyên gốc trên nguyên tắc đối xử quốc gia, đặc biệt nhấn mạnh việc bảo hộ chương trình máy tính như các tác phẩm viết, việc bảo hộ đối với các sưu tập dữ liệu mà sự lựa chọn và sắp xếp nội dung có tính sáng tạo trí tuệ. Hiệp định còn quy định về việc bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hóa. Về các quyền được bảo hộ theo Hiệp định bao gồm tối thiểu các quyền độc quyền sao chép, phân phối, trưng bày, phổ biến công cộng với những hạn chế và ngoài lệ theo tiêu chuẩn của Điều 9 (1) Công ước Berne. Về thực thi, hiệp định quy định nghĩa vụ áp dụng các biện pháp thực thi tại biên giới, dân sự và hình sự, bao gồm các hình phạt và ngăn chặn theo các chuẩn mực của Hiệp định Trips. Các nghĩa vụ này được thực hiện theo quy định và luật pháp quốc gia.

 

 


 TS. Vũ Mạnh Chu


 
Tin cũ
 

Ngày Pháp luật Việt Nam 9/11

Hưởng ứng ngày Pháp luật Việt Nam 9/11


time2online Joomla Extensions: Simple Video Flash Player Module

Tác giả tự giới thiệu